Thư số 39a gởi: Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
Phạm Bá Hoa
Tôi chào đời năm 1930, vào quân đội Việt Nam Cộng Hòa năm 1954, chống lại cuộc chiến tranh do nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa gây ra. Trong bang giao quốc tế, quốc gia này đánh chiếm quốc gia kia, không có tên gọi nào khác ngoài hai chữ “xâm lăng”. Sau ngày 30/4/1975, lãnh đạo cộng sản Việt Nam với lòng thù hận đã đày đọa chúng tôi trong hơn 200 trại tập trung mà họ gọi là trại cải tạo, hằng trăm Bạn tôi đến 17 năm, riêng tôi là 12 năm 3 tháng. Tuy tên Quốc Gia và Quân Lực mà tôi phục vụ không còn nữa, nhưng linh hồn trong quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ vẫn nguyên vẹn trong tôi.
Tôi không hận thù lãnh đạo Các Anh, nhưng tôi không bao giờ quên quá khứ đau thương tàn bạo mà họ gây ra cho Tổ Quốc, Dân Tộc! Vì vậy mà tôi chưa bao giờ, và sẽ không bao giờ về Việt Nam cho đến khi quê hương cội nguồn của tôi có một chế độ dân chủ tự do thật sự.
Các Anh là Người
Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam. Xin gọi Người Lính Quân Đội Nhân Dân ngắn gọn
là “Các Anh” để tiện trình bày. Chữ “Các Anh” viết hoa mà tôi sử dụng ở
đây, bao gồm từ người lính đến các cấp chỉ huy, ngoại trừ lãnh đạo cấp Sư Đoàn,
Quân Đoàn, Quân Chủng, Bộ Tổng Tham Mưu, và Bộ Quốc Phòng. Là Người Lính trong
quân đội “Nhân Dân”, Các Anh phải có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân,
vì Tổ Quốc với Nhân Dân là trường tồn, trong khi đảng cộng sản hay bất cứ đảng
nào cầm quyền cũng chỉ một giai đoạn của lịch sử, và nội dung tôi gởi đến Các
Anh được đặt trên căn bản đó.
Nội dung thư
này, tôi tổng hợp một số tin tức liên quan để cùng Các Anh trở lại hoạt động
của các tổ chức xã hội dân sự. Với nỗ lực vận động tìm sự hỗ trợ của các giới
chức chính trị ngoại quốc, MLBVN đã tiếp xúc với đại diện của 7 tòa đại sứ tại
Hà Nội và 1 tòa lãnh sự tại Sài Gòn, trình bày về “Nhân Quyền” tại Việt Nam, và
chiến dịch “Chúng Tôi Muốn Biết” về nội dung hội nghị Thành Đô năm 1990.
Thứ nhất.
Khái niệm về xã hội dân sự.
(Trích trong
Wikipedia) Theo Trung Tâm Xã Hội Dân Sự của trường đại học kinh tế London thì: “Xã hội dân sự đề cập tới một
mảng các hoạt động tập thể tự nguyện xung quanh các giá trị, mục tiêu, ý thích
chung. Về lý thuyết, các hình thái tổ chức xã hội dân sự khác biệt hẳn với các
hình thái tổ chức nhà nước, gia đình và thị trường. Nhưng trong thực tế thì ranh
giới giữa nhà nước, xã hội dân sự, gia đình, và thị trường là chen lẫn nhau.
Xã hội dân sự thường bao gồm một sự đa dạng về phạm vi hoạt động, các thành viên tham gia và các hình thái tổ chức, khác nhau về mức độ nghi lễ, tự do, và quyền lực. Xã hội dân sự thường được hình thành dưới dạng các tổ chức như các hội từ thiện, các hiệp hội, các công đoàn, các nhóm tương trợ, các phòng trào xã hội, các hiệp hội kinh doanh, các liên minh, và các đoàn luật sư”.
Xã hội dân sự thường bao gồm một sự đa dạng về phạm vi hoạt động, các thành viên tham gia và các hình thái tổ chức, khác nhau về mức độ nghi lễ, tự do, và quyền lực. Xã hội dân sự thường được hình thành dưới dạng các tổ chức như các hội từ thiện, các hiệp hội, các công đoàn, các nhóm tương trợ, các phòng trào xã hội, các hiệp hội kinh doanh, các liên minh, và các đoàn luật sư”.
Thuật ngữ “xã hội dân sự” xuất hiện lần đầu tiên vào thế kỷ 16 ở châu Âu, và trở nên phổ biến từ thế kỷ 18. Theo quan niệm truyền thống châu Âu, xã hội dân sự được coi là một
tổ chức không thuộc chánh phủ. (Hết trích)
“Xã hội dân sự”, tổ chức trên căn bản tự nguyện, tự phát, tự lực, không thuộc lãnh vực chánh phủ, cũng không thuộc
lãnh vực kinh tế, và hoạt động theo những qui định mà mọi người trong tổ
chức chấp nhận. ”Xã hội dân sự”, vừa tiếp tay với chánh phủ về những lãnh vực xã hội mà
chánh phủ chưa hoàn thiện hoặc thiếu sót, vừa chống chánh phủ bởi những lời
tuyên bố hay lời viết trái ngược với sinh hoạt của xã hội dân chủ, chống những
nhà chính trị có lời tuyên bố hay hành động có hại cho quốc gia dân tộc, và chống
những viên chức tham nhũng trong bộ máy cầm quyền. “Xã hội dân sự”, vừa tự
mình, và vừa hướng dẫn xã hội tác động một cách ôn hòa vào lãnh vực công cộng để bày tỏ các quyền lợi ghi trong Hiến
Pháp, nêu vấn đề với các cơ quan công quyền và yêu cầu các đại diện chánh phủ giải quyết. Mục đích là góp phần duy trì và bảo vệ các quyền tự do của con người trong một xã hội
lành mạnh.
(Trích trong
Wikipedia) Tại Việt
Nam. Xã hội dân sự hình thành từ khái niệm
dân chủ và quyền công dân được người Pháp du nhập vào Việt Nam đầu thế kỷ 20. Trước năm
1945, các phong trào và tổ chức dân sự phát triển mạnh tại Việt Nam. Từ sau năm
1945, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, hoàn toàn
không một tổ chức nào của tư nhân được thành lập, trong khi các tổ chức dân sự
tại Việt Nam Cộng Hòa vẫn tồn tại
và phát triển mạnh. Từ sau năm 1975, nhóm lãnh đạo Việt Cộng âm thầm lãnh đạo các tổ chức dưới
danh nghĩa xã hội dân sự do chính họ tổ chức, được gọi là “quốc doanh” để phục vụ chính trị cho đảng và
nhà nước, như: “Các tổ chức tôn giáo. Công đoàn. Nghiệp đoàn. Các Hội đoàn văn hóa, văn nghệ, nghệ sĩ , ..v..v… đều là quốc doanh.
(Hết trích)
Dưới chế độ cộng sản
Việt Nam độc tài toàn trị ngày càng khắc nghiệt, các tổ chức xã hội đúng nghĩa
của xã hội dân sự, lần lượt được hình thành trên căn bản tự phát và tự lực trong mục đích
phục vụ xã hội. Cho dù thường xuyên bị đàn áp bằng mọi cách -kể cả hành động
côn đồ- của đảng với nhà nước, các tổ chức xã hội dân sự ngày càng phát triển với
sự ủng hộ mạnh mẽ của Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại, và các
giới chức chính trị từ các quốc gia quan tâm đến “Quyền Con Người” ngang qua
các cơ quan ngoại giao của họ tại Việt Nam.
Thứ hai. Mạng
Lưới Blogger Việt Nam tiếp xúc với đại diện 3 tòa đại sứ.
Ngày 20/11/2014 tại
tòa đại sứ Hòa Lan, Hà Nội.
Ông Kees Van
Baar, Đại sứ Nhân Quyền Hòa Lan, và Bà Nienke
Trooster tân Đại sứ Hòa Lan tại Việt Nam, đã tiếp nhóm đại diện Mạng Lưới
Blogger Việt Nam (MLBVN). Ông Đại sứ Nhân Quyền Hòa Lan đến Việt Nam tham dự hội nghị không chính thức lần thứ 14 của Diễn Đàn Á Châu – Âu Châu (gọi tắt Anh ngữ là ASEM) với chủ đề “Doanh nghiệp và Nhân quyền”.
Được biết có một số nhà giáo và những người quan tâm đến lãnh vực
nhân quyền không làm việc trong các tổ chức nhà nước, đã ghi danh tham gia hội nghị này nhưng bị lãnh đạo Việt Cộng từ chối vì lý do an ninh quốc gia.
Khi nghe tường thuật sự kiện này, Ông Đại Sứ nhân quyền Kees
Van Baar vô cùng ngạc nhiên, và ông nói: “Đây là lần đầu tiên tôi đến Việt Nam, ngoài vấn đề hợp
tác kinh tế giữa hai nước, vấn đề nhân quyền tại Việt Nam là một phần quan trọng
trong chuyến đi của tôi”.
Blogger Mẹ Nấm tức Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, trình bày về những
hành động giới hạn quyền tự do ngôn luận đối với những người bất đồng chính kiến tại
Việt Nam, thậm chí còn phân biệt đối xử những người
này sau khi ra tù.
Đại diện tòa đại sứ Hòa Lan bày tỏ sự quan tâm đối với tình trạng
nhân quyền tại Việt Nam sau khi Việt Nam vào Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc. Những chia sẻ hôm nay đã
góp thêm tin tức thực tế, và tòa đại sứ sẽ xem xét để tiếp tục có những nỗ lực
thúc đẩy nhân quyền Việt Nam trong tương lai.
Cùng tham gia với Blogger Mẹ Nấm
trong buổi gặp gỡ hôm nay, còn có bà Hiền -vợ luật sư Lê Quốc Quân- và bạn Nghiêm Hoa.
Ngày 21/11/2014 tại khách sạn Sheraton, Sài Gòn.
Được sự giới thiệu của ông Felix Schwarz, Tham Tán Chính Trị tòa đại sứ Cộng Hòa
Liên Bang Đức, những người bất đồng
chính kiến Việt Nam có cuộc tiếp xúc thân mật với ông Sigmar Gabriel Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Bộ Kinh Tế & Năng Lượng Đức, và các Quốc Vụ Khanh trong chính phủ Đức tại khách sạn Sheraton vào buổi
tối,.bên lề Hội Nghị Châu Á- Thái Bình Dương lần thứ 14 của
Doanh Nghiệp Đức tại Sài Gòn.
Những người được mời là: (1) Anh Phạm Bá Hải. (2) Anh Huỳnh Trọng Hiếu. (3) Anh Lê Quốc Quyết. (4) Anh Nguyễn Trí Dũng. (5) Cô Nguyễn Ngọc
Như Quỳnh. (6) Và cô Huỳnh Thục Vy. Tất cả đã đến điểm hẹn an toàn do tòa đại sứ Đức thu xếp rất chu đáo thận trọng.
Chuyến công du Việt Nam lần này của Phó Thủ Tướng và phái đoàn Đức là vấn đề hợp tác kinh tế gữa Đức Quốc với Việt Nam, nhưng ông Phó Thủ Tướng
Sigmar Gabriel nói rằng: “Nếu thăm
Việt Nam mà chỉ bàn về kinh tế mà bỏ qua hồ sơ Nhân Quyền thì thật không đúng đắn, không tử tế”.
Chúng tôi đã trao đổi khá nhiều về quan điểm đấu
tranh, các thủ đoạn của nhà cầm quyền Việt Nam, và mối liên hệ giữa kinh tế và chính trị
trong bối cảnh Việt Nam. Ông Phó Thủ Tuớng Đức đã ghi nhận những tin tức vi phạm nhân quyền tại Việt Nam.
Ông Sigmar Gabriel là giới chức cao cấp nhất của Đức từng tiếp xúc với những người bất đồng chính kiến tại Việt Nam. Và hành động này cho thấy Cộng Hòa Liên Bang Đức từng bước quan tâm đến vấn đề chính trị và nhân quyền trong bang giao với Việt Nam. Điều tiên quyết mà những người đấu tranh tại Việt Nam nói riêng, hay phong trào Dân Chủ nói chung, cần vận động sự nhận thức và hợp tác của các cộng đồng dân tộc trong nước, nhưng những cuộc gặp gỡ như thế này với chính giới phương Tây, cũng là dịp để chúng tôi thiết lập những đường giây đối thoại trực tiếp với bên ngoài, trong hoàn cảnh bị nhà cầm quyền cộng sản thường xuyên phong tỏa và ngăn chặn.
Ông Sigmar Gabriel là giới chức cao cấp nhất của Đức từng tiếp xúc với những người bất đồng chính kiến tại Việt Nam. Và hành động này cho thấy Cộng Hòa Liên Bang Đức từng bước quan tâm đến vấn đề chính trị và nhân quyền trong bang giao với Việt Nam. Điều tiên quyết mà những người đấu tranh tại Việt Nam nói riêng, hay phong trào Dân Chủ nói chung, cần vận động sự nhận thức và hợp tác của các cộng đồng dân tộc trong nước, nhưng những cuộc gặp gỡ như thế này với chính giới phương Tây, cũng là dịp để chúng tôi thiết lập những đường giây đối thoại trực tiếp với bên ngoài, trong hoàn cảnh bị nhà cầm quyền cộng sản thường xuyên phong tỏa và ngăn chặn.
Ngày
21/11/2014 tại tòa lãnh sự Hoa Kỳ, Sài Gòn.
Các thành viên MLBVN gồm
blogger Nguyễn Hoàng Vi, blogger Mẹ Nấm, và facebooker Dương Lâm, đã có buổi tiếp xúc với ông Charles Sellers, trưởng phòng chính trị, đại diện tòa lãnh sự
Hoa Kỳ, ông Garrett Harkins, và bà Betsy Allens. Đây là một trong những nỗ lực phát triển
chiến dịch “Chúng Tôi Muốn Biết” = We Want To Know, sau khi .sau khi văn phòng Quốc Hội, ban dân nguyện tại Hà Nội, và văn phòng Quốc Hội phía
Nam vào ngày 15/10/2014, đã từ chối nhận bản “yêu cầu bạch hóa Hội nghị Thành Đô 1990”.
Đại diện MLBVN trình bày mục tiêu của chiến dịch là
bày tỏ quyền được biết và yêu cầu sự minh bạch trong các vấn đề liên quan đến lợi
ích quốc gia của chính phủ Việt Nam. Tuy nhiên, thay vì trả lời cho công dân thì cơ quan thẩm quyền đã sử dụng
bạo lực và đóng cửa văn phòng Quốc Hội phía Nam, không tiếp xúc với dân nữa. Song song với những nỗ lực tranh đấu của người Việt Nam là chính,
sự hỗ trợ quốc tế -đặc biệt là từ phía chính phủ các nước- cũng rất cần thiết….
Ông Charles, đại diện tòa lãnh sự
Hoa Kỳ chia sẻ rằng: ”Việc quan
tâm và ủng hộ việc thúc đẩy việc cải thiện nhân quyền bằng các hình thức ôn hòa
như bày tỏ quyền tự do ngôn luận, quyền được biết, nằm trong những mối quan tâm của Mỹ. Tòa lãnh sự hy vọng những nỗ lực thúc đẩy sự cải thiện
tình hình nhân quyền tại Việt Nam sẽ sớm có những kết quả tốt đẹp”.
Thứ ba.
MLBVN cùng lúc tiếp xúc với đại diện 6 tòa đại sứ.
Ngày
3/12/2014 tại tòa đại sừ Thụy Điển, Hà Nội, nhóm đại diện Mạng Lưới Blogger Việt Nam (MLBVN) gồm các Blogger Trịnh Kim Tiến (Hà Nội), Trịnh Anh Tuấn
(Hà Nội), Nguyễn Tiến Nam (Hà Nội), và Nguyễn Hoàng Vi (Sài Gòn),
đã tiếp xúc và làm việc trong 2 tiếng đồng hồ với đại diện của 6 tòa đại sứ, là: (1) Hoa Kỳ. (2) Thụy Điển. (3)
Úc Đại Lợi. (4) Phần Lan. (5) Na Uy. (6) Cộng
Hòa Liên Bang Đức. Cuộc tiếp xúc này trong chương trình thúc đẩy chiến dịch “Chúng Tôi Muốn Biết”, đồng thời vận động xóa bỏ Điều luật 258.
Các vị đại diện 6
tòa đại sứ, là: (1) Bà Elenore Kanter, Tham tán chính trị, Phó Đại Sứ, Trưởng Ban Chính Trị & Thương Mại tòa đại sứ Thụy Điển. (2) Bà Rose McConnell, Bí thư thứ hai Chính Trị & Kinh Tế tòa đại sứ Úc Đại Lợi. (3) Bà Annina Barbosa, Phó Đại Sứ Phần Lan. (4) Bà Jenifer Neidhart de Ortiz, viên chức chính trị tòa đại sứ Hoa Kỳ. (5) Ông Tone Wroldsen, Bí Thư thứ hai tòa đại sứ Na Uy. (6) Ông Felix Schwarz, Tham Tán chính trị tòa đại sứ Đức. Ngoài ra còn có ông Carl Bradshaw Thorell, thực tập sinh ban chính trị & thương mại tại tòa đại sứ Thụy Điển.
Buổi tiếp xúc này tiếp nối nỗ lực của MLBVN sau cuộc tiếp xúc với các viên chức tại các tòa đại sứ Hòa Lan, Cộng Hòa
Liên Bang Đức, và Hoa Kỳ trong ngày 20 và 21/11/2014.
Với nỗ lực tranh đấu cho Quyền Được Biết và
tiếp tục chiến dịch Chúng Tôi Muốn Biết, đại diện MLBVN trình bày
chiến dịch này, và gửi đến đại diện các tòa đại sứ bản Yêu cầu bạch hóa biên bản hội
nghị Thành Đô 1990, sau khi những nỗ lực trao thư yêu cầu cho văn phòng
Quốc Hội ở Hà Nội và Sài Gòn bị từ chối. Những tin tức về việc các thành viên nòng cốt của MLBVN bị ngăn cản từ nhà,
còn những người
đến được văn phòng Quốc Hội thì bị Công An chận đường hành hung.
Các vị đại diện tòa đại sứ chia sẻ rằng, họ ủng hộ chiến dịch “Chúng
Tôi Muốn Biết” của MLBVN để thúc đẩy “Quyền được biết” của
người dân Việt Nam. Đại diện phía Hoa Kỳ quan tâm đặc biệt đến bang giao Việt-Trung. Đại diện tòa đại sứ Đức nhấn mạnh về sự quan tâm của họ đến “Quyền Được Biết” của người dân Việt Nam. Riêng đại diện sứ quán Thụy
Điển ghi nhận những nỗ lực hoạt động thúc đẩy nhân quyền của MLBVN trong thời
gian qua, và nói lời chúc mừng MLBVN nhân kỷ niệm 1 năm ngày thành lập MLBVN (10/12/2014).
Tôi tin rằng, Các
Anh đã biết sự hình thành của các tổ chức xã hội dân sự trong bối cảnh xã hội bị
nhóm lãnh đạo Việt Cộng bịt mắt bịt tai bịt miệng, và bóp nghẹt sự suy nghĩ lẫn
tiếng nói của mọi người, dù là tiếng nói chính trị, tiếng nói chống tham nhũng,
tiếng nói của những đoàn dân oan, tiếng nói chống sự có mặt của công nhân Trung
Cộng trên khắp lãnh thổ Việt Nam dưới dạng những hợp đồng kinh tế. Trong bối cảnh
đó, hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự nói chung, và nhóm đại diện Mạng Lưới
Blogger Việt Nam nói riêng, đã chứng tỏ lòng dũng đảm của các thành phần trong
xã hội -nhất là giới trẻ- luôn thể hiện niềm tin mãnh liệt vào tương lai Việt
Nam trong một xã hội dân chủ pháp trị.
Thứ tư. Nội dung hội nghị Thành Đô từ nhân vật trong cuộc.
Với chiến dịch “Chúng
Tôi Muốn Biết” mà nhóm đại diện các blogger trên đây cố gắng vận động đại
diện các tòa đại sứ quan tâm đến nhân quyền Việt Nam, cũng là cách tạo áp lực với
nhóm lãnh đạo Việt Cộng minh bạch hóa cho toàn dân biết về Biên Bản hội nghị bí
mật hồi tháng 9/1990 tại Thành Đô, Trung Cộng. Tôi mời Các Anh đọc lại Thư số
1 hồi tháng 11/2011 và Thư số 26 tháng 12/2013, trong đó tôi sử dụng
tài liệu về hội nghị Thành Đô ngày 3-4/9/1990 tại tỉnh Tứ Xuyên (Trung Cộng) từ
tổ chức Wikipedia, tổ chức Wikileaks, và nhật ký của cựu Thứ Trưởng
Ngoại Giao Việt Nam Trần Quang Cơ. Bây giờ tôi tóm lược những đoạn trong
bài viết của tác giả Huỳnh Tâm mà tác giả trích từ quyển ”Nhật Ký
Ngoại Sự” của Thủ Tướng Trung Cộng Lý Bằng là nhân vật trong cuộc, do
Tân Hoa Xã Trung Cộng ấn hành.
Trích nhật ký của
Thủ Tướng Trung Cộng Lý Bằng.
“Cuối những
năm 1970. Việt Nam đưa quân sang Campuchia. Năm 1979, quan hệ Trung-Việt bế tắc. Tháng 12/1986, trước tình hình quốc tế thay đổi, đặc biệt là Liên Xô và Đông Âu tan rã. Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh tìm kiếm
chính sách bình thường hóa với Trung Quốc. Sau khi hai bên Trung-Việt
thông qua đường liên lạc, đồng ý hội nghị bí mật vào ngày 03-04/9/1990. Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh và Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Việt Nam Đỗ Mười, chấp nhận đàm phán với các nhà lãnh đạo Trung Quốc”.
“Ngày 27/8/1990. Đồng chí Giang Trạch Dân và tôi, sẽ hội kiến với Nguyễn Văn
Linh theo những dự thảo liên quan mà tôi đã báo cáo lên đồng chí Đặng Tiểu
Bình. Cuộc họp này liên quan đến việc bình thường hóa quan hệ song phương Trung-Việt là điều đặc biệt hệ trọng, nên để bảo mật, địa điểm hội đàm sẽ được tổ chức tại Thành Đô”.
“Ngày 30/8/1990. Đồng chí
Giang Trạch Dân và tôi sẽ đến Thành Đô, để đàm phán nội bộ với Tổng Bí Thư đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn
Linh, và Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Việt Nam Đỗ Mười. Bây giờ thử
xem Việt Nam trả lời thế nào”.
Với dòng chữ tôi tô
đậm trên đây, rõ ràng là Trung Cộng xem Việt Cộng không ra gì cả. Nếu cần,
Các Anh hãy đọc lại, và suy nghĩ nhé ….
“Ngày 02/9/1990. Lúc 3 giờ 30 chiều, tôi lên chiếc máy bay riêng và cất cánh từ ngoại ô Bắc Kinh. Khoảng 6 giờ chiều đến sân bay Thành Đô, và di chuyển
bằng xe đến Kim Ngưu tân quán (宾馆金牛). Bí thư tỉnh ủy Dương Nhữ Đại chờ đón tại đây. Trong khi đồng chí Giang Trạch Dân đáp chiếc bay khác và đến Thành Đô sau tôi. Lúc 11 giờ đêm, tôi cùng đồng chí Giang Trạch Dân, trao đổi chính sách cho cuộc đàm phán với phía Việt Nam vào ngày mai”.
“Thành Đô, ngày 3/9/1990. Buổi
sáng, tôi đến chỗ đồng chí Giang Trạch Dân tiếp tục nghiên cứu các nguyên tắc
tiến hành đàm phán với phía Việt Nam. Khoảng 2 giờ trưa, Tổng Bí Thư đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Đỗ Mười, và Cố Vấn ban chấp hành trung ương đảng Phạm Văn Đồng, cùng đến Kim Ngưu tân quán. Đồng chí Giang Trạch
Dân và tôi, chào đón họ tại tầng lầu 1. Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh, mặc
veston màu cà phê, phong thái học giả. Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Đỗ Mười, mái tóc bạc trắng, cũng có thái độ mạnh mẽ, mặc
veston màu xanh. Họ là những người trên bảy mươi tuổi, và Phạm Văn Đồng thị
giác mắt nheo đục, mặc veston đại cán phù hợp với màu xanh, ông cũng là cựu
chiến binh Trung Quốc”.
“Buổi chiều,
cuộc đàm phán bắt đầu. Nguyễn Văn Linh, lần đầu tiên đọc bài phát biểu dài. Mục đích
mong muốn giải quyết vấn đề Campuchia càng sớm càng tốt. Xem ra về vấn đề Campuchia, Nguyễn Văn Linh có vẻ bày tỏ về nguyên tắc, còn trọng điểm
là bình thường hóa quan hệ Trung-Việt. Cuộc đàm phán tiếp tục cho đến 8 giờ tối, và vào tiệc lúc 8 giờ 30 tối. Bên bàn tiệc, tôi và đồng chí Giang Trạch Dân, tiếp tục làm việc với Đỗ Mười và Nguyễn Văn Linh”.
Ngày 4/9/1990. Buổi
sáng, chúng tôi tiếp tục họp với các nhà lãnh đạo của Việt Nam. Tại thời điểm
này, có thể nói những vấn đề nêu ra trong đàm phán đã đi đến sự đồng thuận một
cách khá thỏa đáng, và cùng quyết định soạn thảo bản "Kỷ yếu hội nghị".
Với dòng chữ mà tôi
tô màu vàng làm cho người đọc nghĩ rằng, nội dung đàm phán do Trung Cộng soạn
thảo và Việt Cộng chấp nhận, vì Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh đạt được mục đích
khi ông nói rằng, “dù Trung Quốc bành trướng thế nào đi nữa, thì Trung Quốc vẫn là một nước xã
hội chủ nghĩa”, để phản bác ý kiến các “đồng chí của ông” có ý ngăn
cản ông đưa Việt Nam ngã vào vòng tay Trung Cộng.
(Trong hình.
Hàng trước, từ trái sang phải: Vị trí số 1 tận cùng bên trái là ông Hoàng Bích Sơn. Vị trí số 3 là
ông Phạm Văn Đồng. Số 4 ông Nguyễn Văn
Linh. Số 5 ông Giang Trạch Dân. Số 6 ông Lý Bằng. Số 7 ông Đỗ Mười. Và vị trí
số 9 tận cùng bên phải là ông Hồng Hà).
“Lúc 2 giờ 30 chiều, trên tầng lầu 1 của nhà khách Kim Ngưu. Tổng Bí Thư và Thủ Tướng của hai bên Trung Quốc với Việt Nam cùng
ký. Đây là bước ngoặc lịch sử
trong quan hệ Trung-Việt. (Hết trích).
Sau ngày hội nghị Thành Đô kết thúc, nhật báo Tứ Xuyên loan tải một
thông điệp của phái đoàn Việt Nam, rằng: "Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn
sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh
như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây… Phía Trung Quốc chấp
nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30
năm để đ ảng cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập
đại gia đình các dân tộc Trung Quốc".
So sánh tổng
quát giữa hai nhật ký. Về Trung Cộng mời họp và
Việt Nam chấp nhận, đến những diễn biến như địa điểm họp, ngày giờ họp, nội
dung họp, soạn thảo Biên Bản mà hội nghị gọi là “kỷ yếu hội nghị”, và hai bên
cùng ký, giữa nhật ký của Thứ Trưởng Ngoại Giao Việt Nam Trần Quang Cơ với nhật
ký của Thủ Tướng Trung Cộng Lý Bằng, đều giống nhau. Nhưng nội dung của Biên Bản
thì nhật ký của ông Lý Bằng chỉ viết: “…. có thể nói những vấn đề nêu ra trong đàm phán đã đi
đến sự đồng thuận một cách khá thỏa đáng, làm cho người
đọc hiểu là lãnh đạo Việt Cộng nhanh chóng chấp nhận quan điểm của lãnh đạo
Trung Cộng, trong khi nhật ký của ông Trần Quang Cơ viết như sau:
“Sau 2 ngày
họp 3 và 4/9/1990, kết quả được ghi lại trong “Biên Bản” gồm 8 điểm. Trong đó: Năm điểm là quan điểm của
Trung Quốc giải quyết hồ sơ Campuchia. Hai điểm liên quan đến quốc tế mà hai bên không
có gì tranh cãi. Chỉ có một điểm nói đến cải thiện bang giao Việt Nam - Trung Quốc mà thực chất chỉ là lập trường cũ của
Trung Quốc đối với Việt Nam”.
Điểm thứ 8 thì ông Trần Quang Cơ viết như sau: “Thỏa thuận Việt Nam-Trung Quốc ở Thành Đô, hoàn toàn không phải là một thành tựu đối ngoại của Việt Nam, mà ngược lại là hết sức sai lầm trong quan hệ giữa hai nước”.
Điểm thứ 8 thì ông Trần Quang Cơ viết như sau: “Thỏa thuận Việt Nam-Trung Quốc ở Thành Đô, hoàn toàn không phải là một thành tựu đối ngoại của Việt Nam, mà ngược lại là hết sức sai lầm trong quan hệ giữa hai nước”.
“Trong bối
cảnh Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ đã tác động đến tư tưởng của ông Nguyễn
Văn Linh, tư tưởng phục tùng Trung Cộng, kẻ thù ngàn đời của dân tộc Việt Nam.
Mặc dù trong thời gian chuẩn bị, các ông Nguyễn Cơ Thạch, Võ Chí Công, Trần Xuân
Bách ngăn cản, nhưng ông Nguyễn Văn Linh không nghe, vẫn giữ quan điểm: “Kéo
Trung Quốc lại để thay thế Liên Xô, làm chỗ dựa vững chắc bảo vệ xã hội chủ nghĩa.
Dù Trung Quốc bành trướng thế nào đi nữa, thì Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa”.
Dù Trung Quốc bành trướng thế nào đi nữa, thì Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa”.
Tóm tắt tài liệu. Những tài liệu của Trung Cộng đã chứng minh nhóm dâng nước cho Trung Cộng do ông Nguyễn Văn Linh đứng đầu.
Những người Việt Nam tử tế đã không theo cộng sản, những người đi theo cộng sản nhưng khi nhận ra cộng sản độc tài tàn bạo
nên đã ly khai khỏi đảng, đều
công nhận rằng “cộng sản là độc tài, là dối trá, là ngụy biện”. Cái cách mà ông
Nguyễn Văn Linh dối gạt dân khi nói đến chủ trương “cởi trói” chính là cách ngụy
biện cho đường lối độc tài cộng sản, đến mức ông ta còn
nói “dù Trung Quốc bành trướng thế
nào đi nữa, thì Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa”. Với trọng tâm của Biên Bản Thành Đô, ông Trần Quang Cơ nói là ”hết sức
sai lầm” trong bang giao giữa hai nước, trong khi ông Lý Bằng nhấn mạnh là “bước
ngoặc lịch sử”. Tôi nghĩ, hai tác giả muốn nói đến nội dung dưới
đây:
“Tổ chức Wikileaks cho biết là họ có trong tay khối
tài liệu liên quan đến Việt Nam vào khoảng 2.300 điện tín gửi đi từ tòa đại sứ
Hoa Kỳ ở Hà Nội và 800 điện tín từ tòa lãnh sự Hoa Kỳ ở Sài Gòn, trong số
251.287 điện tín tài liệu trao đổi giữa 250 cơ quan ngoại giao Hoa Kỳ tại hơn
90 quốc gia với Bộ Ngoại Giao tại Hoa Thịnh Đốn.
Trong số hơn 3.100 điện tín liên quan đến Việt Nam có cả những loại “tối mật”, đặc biệt hơn cả là Biên Bản về cuộc họp tối mật giữa Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh & Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Đỗ Mười của Việt Nam, với Tổng Bí Thư Giang Trạch Dân & Thủ Tướng Lý Bằng của Trung Cộng, ngày 3 và 4/9/1990 tại Thành Đô. Biên Bản này có đoạn: “Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản, đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam xin làm hết mình để vun đắp tình hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước, do Chủ Tịch Mao Trạch Đông và Chủ Tịch Hồ Chí Minh dày công xây đắp trong quá khứ. Việt Nam bày tỏ mong muốn đồng ý sẵn sàng chấp nhận và đề nghị phía Trung Quốc để Việt Nam được hưởng quy chế Khu tự trị trực thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã từng dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây…. Phía Trung Quốc đã đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, cho Việt Nam trong thời hạn 30 năm (1990-2020) để đảng cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”.
Trong số hơn 3.100 điện tín liên quan đến Việt Nam có cả những loại “tối mật”, đặc biệt hơn cả là Biên Bản về cuộc họp tối mật giữa Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh & Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Đỗ Mười của Việt Nam, với Tổng Bí Thư Giang Trạch Dân & Thủ Tướng Lý Bằng của Trung Cộng, ngày 3 và 4/9/1990 tại Thành Đô. Biên Bản này có đoạn: “Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản, đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam xin làm hết mình để vun đắp tình hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước, do Chủ Tịch Mao Trạch Đông và Chủ Tịch Hồ Chí Minh dày công xây đắp trong quá khứ. Việt Nam bày tỏ mong muốn đồng ý sẵn sàng chấp nhận và đề nghị phía Trung Quốc để Việt Nam được hưởng quy chế Khu tự trị trực thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã từng dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây…. Phía Trung Quốc đã đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, cho Việt Nam trong thời hạn 30 năm (1990-2020) để đảng cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”.
Cho dù có phải hay
không phải, thì những sự kiện từ sau hội nghị Thành Đô 1990 đến nay, vẫn là một
chuỗi sự thật trên quê hương Việt Nam mà lãnh đạo Các Anh không thể phủ nhận,
vì chính họ đã và đang tiếp tay cho Trung Cộng thực hiện. Bằng chứng là sau khi
chuyển giao cho Trung Cộng 789 cây số vuông dọc biên giới hai nước hồi năm
1999, và 11.362 cây số vuông trong vịnh Bắc Việt năm 2000, lãnh đạo Trung Cộng
lại được lãnh đạo Việt Cộng chấp nhận cho hằng trăm ngàn công nhân rãi rác trên
toàn cõi Việt Nam, nhất là hằng mấy chục ngàn công nhân Trung Cộng có mặt tại
những vị trí chiến lược về quốc phòng- dưới dạng những hợp đồng xây dựng, kinh
doanh, khai thác, sản xuất, .v..v… Điển hình là:
(1) Vị trí
chiến lược Dak Nông. Tháng 11/2007, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng
quyết định cho thăm dò khai thác quặng Bauxite trên Cao Nguyên Miền Trung trong
thời gian từ năm 2007 đến năm 2015, xét đến năm 2025, và giao cho Tập Đoàn Than
& Khoáng Sản quốc doanh thực hiện. Tập đoàn này dành một hợp đồng cho Công
ty Chalieco của Trung Cộng khai thác trên diện tích 300 cây số vuông thuộc huyện
Dăk Rlâp. tỉnh Đắk Nông. Đầu những năm 1950, cơ quan nghiên cứu chiến lược
của Pháp tại Đông Dương, đánh giá vị trí này là nóc nhà của Việt Nam, giữ được
nơi đây sẽ bảo vệ được Việt Nam.
(2) Vị trí chiến lược Vũng Áng, Hà Tĩnh. Thành lập từ tháng 4/2006,
với diện tích 227 cây số vuông. Tổng số công nhân lên đến 30.400 người mà trong
số đó theo bà Nguyễn Thị Hải Vân, Cục Trưởng Cục Việc Làm/Bộ Lao Động
& Thương Binh Xã Hội, thì số công nhân Trung Cộng tại đây là 10.000 người.
Nhìn lên bản đồ, vị trí eo thắt trên dãi đất có dạng hình cong chữ S như thể bị
cắt làm 2 theo chiều Bắc Nam.
(3) Vị trí
chiến lược đèo Hải Vân-Lăng Cô, Đà Nẳng. Vịnh Đà Nẳng
như hai cái càng cua chưa khép lại. Mõm phía nam là Tiên Sa, nơi có căn cứ của
Hải Quân Nhân Dân Việt Nam, mõm phía bắc là một nhánh của dãy Trường Sơn trên
đèo Hải Vân nhô ra Mũi Cửa Khẽm, nếu nhìn tiếp ra khơi là Hòn Sơn Chà. Dưới nét
nhìn quân sự, rõ ràng và chắc chăn là từ Khu Lăng Cô do Trung Cộng quản trị, sẽ
kiểm soát các tàu chiến của Hải Quân Việt Nam ra vào Vịnh Đà Nẳng. Thậm chí,
Trung Cộng có thể sử dụng máy móc tối tân theo dõi hầu hết hoạt động của
căn cứ quan trọng này. Nhìn lên bản đồ, vị trí này như thể cắt Việt Nam làm 3
theo chiều Bắc Nam. Dù tỉnh Thừa Thiên/Huế cho biết đã ngưng dự án, nhưng tôi
không thể tin vì Thủ Tướng phê duyệt dự án từ ngày
5/12/2008, với lại bao
nhiêu tiền bạc đã chi tiêu trong 6 năm qua, bỗng chốc nói bỏ là được sao?
Việt Cộng mà dám giỡn mặt với Trung Cộng à!
(4) Vị trí
chiến lược Biển Đông. Đài Á Châu Tự Do ngày
8/10/2014, trích bản tin của Tân Hoa Xã thì Trung Cộng đã xây dựng
xong trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa, với đường băng dài 2,000
thước và dùng cho mục đích quân sự. Theo Tân Hoa Xã thì “Đường băng mới xây
tại đảo Phú Lâm là đảo lớn nhất của Hoàng Sa, sẽ nâng cao khả năng quốc phòng của
Trung Quốc ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. Bài viết trên tuần báo quốc phòng Hoa Kỳ IHS Jane’s Defense ngày 21/11/2014, cho rằng, Trung Cộng đã bồi đấp bãi đá Vĩnh Thử, (Đá Chữ Thập) thuộc quần đảo Trường Sa cách nay 3 tháng. Đảo nhân tạo này dài 3 km, và rộng từ 200 đến 300 mét. Các tác giả
bản báo cáo cho biết, đây là dự án thứ tư mà Trung Cộng thực hiện tại quần đảo
này trong thời gian 12 đến 18 tháng qua. Tạp chí Jane’s Defense nhận định: “Dự án bồi đấp bãi Đá Chữ Thập, dường như được thực hiện trong mục đích buộc các bên đang tranh chấp chủ quyền phải từ bỏ các
yêu sách của mình, hoặc các bên tranh chấp phải ngồi lại đàm phán mà thế mạnh thuộc về Trung Quốc”.
Ngày 7/1/2015, Tướng Gregorio Catapang Jr. Tổng Tham Mưu Truởng Phi Luật Tân, khẳng định với báo chí rằng: “Khoảng 50% công trình phi đạo trên bãi Đá Chữ Thập đã hoàn tất”. Ông nói thêm: “Phi đạo này dài khoảng 2000 thước, và có thể xây dựng xong trong năm 2015 này, vì họ làm rất nhanh”. Như vậy, hai phi đạo tại Hoàng Sa và Trường Sa là vị trí chiến lược ở hai đầu Nam Bắc, mà từ đó Trung Cộng sẽ không chế Biển Đông như thể là ao nhà của họ, bất chấp lịch sử, sự thật, và công lý. Cộng sản -dù là Trung Cộng hay Việt Cộng- cũng vậy..
Ngày 7/1/2015, Tướng Gregorio Catapang Jr. Tổng Tham Mưu Truởng Phi Luật Tân, khẳng định với báo chí rằng: “Khoảng 50% công trình phi đạo trên bãi Đá Chữ Thập đã hoàn tất”. Ông nói thêm: “Phi đạo này dài khoảng 2000 thước, và có thể xây dựng xong trong năm 2015 này, vì họ làm rất nhanh”. Như vậy, hai phi đạo tại Hoàng Sa và Trường Sa là vị trí chiến lược ở hai đầu Nam Bắc, mà từ đó Trung Cộng sẽ không chế Biển Đông như thể là ao nhà của họ, bất chấp lịch sử, sự thật, và công lý. Cộng sản -dù là Trung Cộng hay Việt Cộng- cũng vậy..
Chỉ cần công nhân
-hay quân lính- Trung Cộng có mặt tại những vị trí chiến lược trên đây, đã đủ
cho lãnh đạo của họ khống chế nhóm lãnh đạo Việt Cộng, và từ đó, Việt Nam trong
vòng tay của Trung Cộng rồi. Tôi nghĩ, đó là chiến lược mà Trung Cộng thực hiện
để nắm chắc Việt Nam trong tay, vì e nhân dân Việt Nam khi biết được nội dung
Biên Bản Thành Đô sẽ nổi dậy lật đổ nhóm lãnh đạo của họ và đảo ngược thế chính
trị Việt Nam, lúc ấy Trung Cộng sẽ không thể xua quân tấn công Việt Nam vì áp lực
quốc tế. Các Anh nghĩ sao? ...
Kết luận.
Sau khi Các Anh đọc
xong những trang thư vừa rồi, tôi nghĩ là trong một mức độ nào đó, Các Anh hiểu
được tại sao tôi viết loạt thư này gởi đến Các Anh. Thật sự là tôi muốn giúp
Các Anh có được nét nhìn của người tự do như chúng tôi, để Các Anh nhận
ra con đường cộng sản mà Các Anh đã và đang đi là tự mình nhốt mình trong nhà
tù lớn do Bộ Chính Trị lãnh đạo với bản chất độc tài, tàn bạo, dối trá, và cai
trị dối trá. Từ đó, Các Anh hãy suy nghĩ mà chọn cho mình một hướng đi, cùng 90
triệu đồng bào hòa nhập vào Cộng Đồng thế giới tự do, để được ngẫng cao đầu giữa
thế giới văn minh, được hãnh diện trước những người ngoại quốc đến Việt Nam du
lịch, tìm hiểu nếp sống văn hóa dân tộc với chiều dài lịch sử ngàn năm trước đã
lừng danh thế giới.
Các Anh
đừng quên rằng: “Tự do,
không phải là điều đáng sợ, mà là nền tảng cho sự thịnh vượng của đất nước.
Không có dân chủ, không thể có sự trỗi dậy và phát triển bền vững. Và chính
chúng ta phải tranh đấu, vì Dân Chủ Tự Do không phải là quà tặng.
Texas,
tháng 1 năm 2015
Phạm Bá
Hoa
~~~~~~~~~~~~~~~
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~
__._,_.___

No comments:
Post a Comment