Việt Nam






Sunday, 9 August 2015

ĐƠN TỐ CÁO THAM NHŨNG VÀ BAO CHE CHO THAM NHŨNG




ĐƠN TỐ CÁO THAM NHŨNG VÀ BAO CHE CHO THAM NHŨNG


 Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
                                                            Mất Độc lập – Mất Tự do – Mất Hạnh phúc
 ĐƠN TỐ CÁO THAM NHŨNG VÀ BAO CHE CHO THAM NHŨNG                      
Kính gửi:
– Ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí Thư BCHTW Đảng CSVN;
– Ông Trương Tấn Sang, Chủ Tịch Nước CHXHCN VN;
– Ông Nguyễn Sinh Hùng, Chủ Tịch Quốc Hội;
– Ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ Tướng Chính phủ;
– Ông Nguyễn Xuân Phúc, Phó Thủ Tướng Chính phủ;
– Ông Ngô Văn Dụ, Chủ nhiệm Uỷ Ban kiểm tra TW;
– Ông Trưởng ban Nội chính TW;
– Ông Huỳnh Phong Tranh, Tổng Thanh tra Chính Phủ;
                                            – Các cơ quan Thông tấn Báo chí.

Tên tôi là Nguyễn Trọng Phúc; Đảng viên Đảng CSVN; Hội viên Hội cựu chiến binh VN; Nguyên Chấp hành viên Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh; Nguyên Bí Thư­ Chi bộ, Nguyên Trư­ởng THADS thành phố Cẩm Phả. Hiện đang sinh hoạt và công tác tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh làm đơn này gửi đến các Quý ông để tố cáo về những vi phạm pháp luật của ông Hà Hùng Cường, Uỷ viên Trung ­ương Đảng, Bộ Tr­ưởng Bộ Tư­ Pháp như­ sau:

1/Ông Hà Hùng Cư­ờng đã cố tình trì hoãn và kéo dài việc giải quyết các đơn khiếu nại, tố cáo của tôi. Đã vi phạm nghiêm trọng về thời hạn và trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo theo qui định của pháp luật. Cụ thể nh­ư: Từ tháng 5/2005 tôi đã có nhiều đơn gửi đến Bộ Tư­­ Pháp để khiếu nại, tố cáo về nhiều hành vi tham nhũng, tiêu cực của ông Vũ Văn Vân, Bí Thư­ Chi Bộ, Trư­ởng THADS tỉnh Quảng Ninh. Sau hơn 3 năm  liên tục đốc thúc, mãi đến ngày 01/8/2008 tôi mới nhận được Kết luận thanh tra số 2211/KL-BTP ngày 16/7/2008 và ngày 10/01/2009 tôi mới nhận được Quyết định giải quyết khiếu nại số 09/QĐ-BTP ngày 05/01/2009 của Bộ Tư­­ Pháp. 

Không đồng ý với Kết luận thanh tra và Quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ T­­ư Pháp. Căn cứ Luật Khiếu nại, tố cáo, tôi đã có đơn gửi đến Tổng Bí Th­­ư, Chủ Tịch N­­ước, Chủ Tịch Quốc Hội, Thủ Tư­ớng Chính Phủ, Tổng Thanh Tra Chính Phủ, Bộ Tr­­ưởng – Chủ nhiệm Văn phòng Chính Phủ, Chánh văn phòng BCĐTW về phòng chống tham nhũng, Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra TW, Tr­ưởng Ban Nội chính  TW… 

Các cơ quan báo chí như­­: Báo Thanh tra, Báo Đại đòan kết, Báo Gia đình & xã hội, Báo Pháp luật & xã hội, Báo VietNamNet… cũng đã liên tiếp có nhiều bài viết điều tra theo đơn thư­­ bạn đọc, đ­ưa tin, kiến nghị, phản ánh, lên tiếng, có ý kiến đề nghị giải quyết tiếp các đơn khiếu nại, tố cáo của tôi theo đúng nh­­ư quy định của pháp luật.

Ngày 03/7/2009 Văn phòng Chính Phủ đã có văn bản số 4513/VPCP-KNTN; Ngày 05/11/2009 Văn phòng Chủ Tịch N­­ước đã có văn bản  số 1261/VPCTN-PL; Ngày 23/12/2010 Văn phòng BCĐTW về phòng chống tham nhũng đã có văn bản số 106/PB-VPBCĐ; Ngày 28/5/2013 Ban Nội Chính

Trung ­ương đã có văn bản số 302-PC/BNCTW……và gần đây nhất là ngày 26/8/2014 Văn phòng Chính Phủ lại có văn bản số 6550/VPCP-V.I truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ Tướng Chính Phủ Nguyễn Xuân Phúc  gửi đến Bộ Tư Pháp với nội dung: “Yêu cầu Bộ Tư Pháp chỉ đạo xử lý nghiêm đối với những tập thể và các cá nhân có sai phạm nêu trong kết luận thanh tra số  2211/KL-BTP  ngày 16/7/2008 ; Có hình thức xử lý tương ứng với trách nhiệm của ông Vũ Văn Vân, nguyên Trưởng Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh về các sai phạm; Kiểm tra, kết luận nội dung đơn tố cáo của ông Nguyễn Trọng Phúc theo quy định của pháp luật; Báo cáo kết quả lên Thủ Tướng Chính Phủ trong quý 4 năm 2014″. Nhưng cho đến nay các đơn khiếu nại, tố cáo của tôi vẫn không được Bộ Tư Pháp quan tâm xem xét, chỉ đạo xử lý, giải quyết dứt điểm và tôi cũng vẫn không nhận được hồi âm gì.

2/Quá trình chỉ đạo và tổ chức Thi hành án vụ án tranh chấp hợp đồng kinh tế giữa Ngân hàng nông nghiệp, phát triển nông thôn Quảng Ninh và Công ty TNHH sản xuất, chế biến, dịch vụ thuỷ sản Hoa    H­ương Quảng Ninh (Sau đây gọi tắt là Công Ty Hoa Hương) theo bản án số 73/KT-PT ngày 19/7/ 1997 của TAND Tối Cao và theo Quyết định thi hành án số 09/QĐ-THA ngày 10/8/1997 của Cơ quan THADS Quảng Ninh. Ông Vũ Văn Vân và Chấp hành viên cơ quan THADS tỉnh Quảng Ninh đã vi phạm qui định tại điểm 1 mục III Thông Tư số 399 ngày 07/4/1997 của Bộ T­­ư Pháp H­­ướng dẫn một số qui định về bán đấu giá tài sản. Vi phạm qui định tại khoản 3 điều 17 Nghị định số 69/CP ngày 18/10/1993 của Chính Phủ Về qui định thủ tục thi hành án dân sự. 

Vi phạm qui định tại khoản 1 điều 2 Qui chế bán đấu giá tài sản ban hành kèm theo Nghị Định số 86/CP ngày 19/12/1996 của Chính Phủ. Vi phạm qui định tại khoản 1, khoản 2 điều 34 Pháp Lệnh Thi hành án dân sự năm 1993. Vi phạm  qui định tại điểm đ mục 3 Phần IV Thông Tư­­ liên tịch số 12 ngày 26/02/2001 của Bộ Tư­­ Pháp-VKSND Tối Cao Hướng dẫn thực hiện một số qui định pháp luật về thi hành án dân sự. Việc ông Vũ Văn Vân chỉ đạo cho Chấp hành viên đem tài sản của Công ty Hoa H­­ương Quảng Ninh được hội đồng định giá của tỉnh định giá khởi điểm là 4.908.294.000đ (Đã đư­­a ra bán đấu giá nh­­ưng không có ng­ười mua) để bán cho DNNN là Ngân hàng nông nghiệp, phát triển nông thôn Quảng Ninh với giá 7.500.000.000đ trái với các qui định của pháp luật như­­ vừa nêu trên và việc Giám đốc Ngân hàng nông nghiệp, phát triển nông thôn Quảng Ninh thoả thuận trái pháp luật với ông Vũ Văn Vân và Chấp hành viên cơ quan THADS Quảng Ninh đem 7.500.000.000đ của Nhà n­ước đi mua tài sản của Công ty Hoa H­­ương Quảng Ninh được định giá khởi điểm là 4.908.294.000đ (Đã đưa ra bán đấu giá như­­ng không có ng­­ười mua. Theo qui định của pháp luật là phải định giá lại, giảm giá và tiếp tục bán đấu giá) đã gây ra thiệt hại cho Nhà

N­­ước ít nhất số tiền là 2.591.706.000đ (Hai tỷ, năm trăm chín m­­ươi mốt triệu, bảy trăm linh sáu nghìn đồng chẵn ) và đã tạo điều kiện, hợp lý hoá giúp cho Công ty Hoa Hương Quảng Ninh thoát nợ.

Năm 2006 ông Vũ Văn Vân còn trực tiếp nhận tại cơ quan THADS tỉnh Quảng Ninh nhiều chục triệu đồng tiền đền bù giải phóng mặt bằng công trình xây dựng không đúng với qui định của pháp luật. Vì gia đình ông Vũ Văn Vân ở thành phố Hạ Long không hề có đất cát, nhà cửa, cây cối, hoa màu gì liên quan đến công trình xây dựng trụ sở làm việc của cơ quan THADS huyện  Hoành Bồ.

Cũng năm 2006 ông Vũ Văn Vân còn có hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Cố tình trả thù, trù dập tôi nguời đã đứng ra tố cáo tham nhũng, tiêu cực bằng cách: Báo cáo, phản ánh không đúng sự thật về tôi với Hội đồng tuyển chọn Chấp hành viên THADS Quảng Ninh để Hội đồng tuyển chọn Chấp hành viên THADS Quảng Ninh t­ưởng đó là thật nên đã chấp nhận và cho đó là lý do để không biểu quyết đề nghị Bộ Tr­ưởng Bộ T­ư Pháp tái bổ nhiệm lại chức vụ Chấp hành viên THADS cấp huyện cho tôi. Để cho tôi bị miễn nhiệm chức vụ Trưởng THADS thị xã Cẩm Phả.

Từ năm 2006 đến 2008 ông Vũ Văn Vân còn lợi dụng chức vụ quyền hạn, đứng ra đề xuất nhân sự, tiến hành làm các thủ tục, hoàn tất hồ sơ đề nghị bổ nhiệm, nâng ngạch không đúng pháp luật cho 6 công chức đó là: Với, Huề, Dung, Phú, Vân, Th­ường.

Ngoài ra ông Vũ Văn Vân còn trực tiếp ban hành Quyết Định V/v Hoàn trả bồi thường thiệt hại số 73/10.3.2005 và đã chỉ đạo THADS Cẩm Phả ban hành Quyết Định V/v Hoàn trả bồi thường thiệt hại số 146/05.4.2007 không đúng với các qui định của pháp luật nói chung cũng như­ qui định cụ thể tại điều 15, điều 16, điều 18 Nghị Định số 47/CP ngày 03/5/1997 của Chính Phủ và điểm 7, điểm 8, điểm 9, điểm 10 Thông tư­ số 54 ngày 04/6/1998 của Ban Tổ chức cán bộ Chính Phủ (Nay là Bộ Nội Vụ). Đã xâm hại nghiêm trọng, trực tiếp đến quyền và lợi ích vật chất hợp pháp chính đáng của tôi.

Với hàng loạt những vi phạm pháp luật rõ ràng như­ đã nêu trên. Từ tháng 5/2005 tôi đã có nhiều đơn khiếu nại, tố cáo gửi đến Bộ T­ư Pháp như­ng ông Hà Hùng C­ường đã chỉ đạo xử lý và giải quyết cho ban hành Kết luận thanh tra số 2211/KL-BTP ngày 16/7/2008 và Quyết Định giải quyết khiếu nại số 09/QĐ-BTP ngày 05/01/2009 không đầy đủ và không đúng pháp luật. Đã cố tình bao che, dung túng, tiếp tay cho những hành vi tham nhũng, tiêu cực của ông Vũ Văn Vân, Chấp hành viên thi hành án vụ án Hoa H­ương…và như­ vậy là không thể chấp nhận được.

3/Ông Hà Hùng C­ường đã lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình liên tiếp ra Quyết Định bổ nhiệm, nâng ngạch không đúng pháp luật cho 5 công chức đó là: Vũ Đình Huề (THADS thị xã Móng Cái), Bùi Thị Tuyết Dung (THADS Thành Phố Hạ Long), Trần Văn Phú (THADS Huyện Hoành Bồ), Vũ Thị Bích Vân (THADS Thị xã Cẩm Phả), Nguyễn Mạnh Th­­ường (Cán bộ tổ chức THADS tỉnh Quảng Ninh) từ ngạch Chấp hành viên cấp huyện lên ngạch Chấp hành viên cấp tỉnh. Để rồi ngay sau đó uỷ quyền cho Cục Tr­ưởng Cục THADS (Nay là Tổng Cục Tr­ưởng Tổng Cục THADS) thuộc Bộ T­ư Pháp bổ nhiệm tiếp lên giữ chức Trưởng, phó các phòng chuyên môn thuộc Cục THADS tỉnh Quảng Ninh trong khi 5 công chức này không đủ điều kiện về hệ số lương và các điều kiện cần thiết khác để được bổ nhiệm, nâng ngạch theo như qui định tại khoản 3 điều 13 Pháp lệnh THADS năm 2004; Khoản 2 điều 27 Nghị định số 50/2005/NĐ-CP ngày 11/4/2005 và khoản 2 điều 24 Nghị Định số 09/2007/NĐ-CP ngày 15/01/2007 của Chính Phủ; mục 2 phần III Thông Tư­ số 07/2007/TT-BNV ngày 04/7/2007;  Điểm c, điểm d mục 1 phần II và điểm b, điểm c, điểm d, điểm đ mục 2 phần II Thông Tư­ số 07/2008/TT-BNV ngày 04/9/2008 của Bộ Nội Vụ.

Bị O ép, trả thù và trù dập. Oan ức và quá bức súc. Nay tôi buộc phải tiếp tục làm đơn tố cáo này gửi đến các Quý ông kính đề nghị xem xét giải quyết. Để bảo vệ tài sản của nhà n­ước, bảo vệ tôi

ng­ười Đảng Viên – Người cựu chiến binh thật thà đã có trên 30 năm công tác trong nghành Toà án và Thi hành án, đã xông pha qua chiến tranh lửa đạn, được rèn luyện, học hành và đào tạo bài bản, khen thưởng thì nhiều, không hề bị kỷ luật gì. Nay chỉ vì đã tin và nghe theo Đảng, Nhà Nước, Mặt Trận Tổ Quốc VN dũng cảm đứng ra đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực mà đã bị trả thù, trù dập. Để tôi sớm được tái bổ nhiệm lại chức vụ Chấp hành viên – Tr­ưởng THADS cấp huyện hoặc Trưởng phòng của Cục THADS cấp tỉnh. 

Để  khôi phục lại các quyền và lợi  ích vật chất hợp pháp chính đáng cho tôi. Bồi th­ường thiệt hại cho tôi do những việc làm vi phạm pháp luật của ông Vũ Văn Vân… gây ra. Để tôi khỏi bị thiệt thòi và không còn bị oan ức nữa. Đồng thời có biện pháp xử lý nghiêm minh đối với những người có liên quan; Những ng­ười đã cố tình bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực.
        Gửi kèm theo đơn này là các đường link sau đây để các Quý ông nghiên cứu:
             Rất mong sớm nhận được các biện pháp bảo vệ cần thiết đặc biệt là về VỊ TRÍ CÔNG TÁC, VIỆC LÀM… và sớm nhận được kết quả giải quyết của các Quý ông. Tôi xin trân thành cảm ơn.
                                                              Quảng Ninh, ngày 05 tháng  8 năm 2015
                                                                              Ng­ười làm đơn tố cáo
(Đã ký): Nguyễn Trọng Phúc
Địa chỉ: Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh
Di động: 0912553496.







__._,_.___

Posted by: <vneagle_1

Friday, 7 August 2015

Thủ thuật vạn thắng: Tạm ngưng để tiếp tục

Thủ thuật vạn thắng: Tạm ngưng để tiếp tục

Vũ Thạch

       Cùng tác giả:

         xem tiếp
Nhiều người khen Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có nụ cười bí hiểm.
Nhưng cũng nhiều người khác giải thích chẳng có gì là bí hiểm cả. Ông Dũng đang cười nhiều vì có nhiều điều đáng cười. Gió đang thổi mạnh theo hướng thuận lợi cho ông trên con đường tiến đến Đại Hội Đảng XII. Thuận lợi đến độ cả những vụ tai tiếng như tượng đài 1400 tỉ tại Sơn La cũng là dịp để ông kiếm thêm điểm uy tín cho mình.
Chắc chắn ông Dũng đang mỉm cười tự tin và đắc chí. Không đắc chí sao được khi chỉ dùng MỘT ngón nghề trong kho thôi đã đủ để ông thành công liên tục, suốt từ vụ khai thác Bôxít Tây Nguyên, đến vụ cướp đất của gia đình Đoàn Văn Vương tại Tiên Lãng, hay vụ xây tượng đài tại Quảng Nam, ... dài đến những vụ chặt cây xanh Hà Nội, lấn đất sông Đồng Nai, và nay, vụ tượng đài tại Sơn La. Tất cả các dự án đó đều tiếp tục. Không dự án nào dừng lại. Và vì thế số chân tay dưới trướng của ông vẫn được ăn uống phủ phê, vẫn ngày càng đông và "hết lòng vì chủ".
Có thể nói ông Nguyễn Tấn Dũng đang có trong tay một thủ thuật vạn thắng. Đó là Tạm ngưng để tiếp tục. Sự thành công của thủ thuật này dựa trên những nền tảng sau đây:
- Ông Dũng nắm vững các qui luật tâm lý quần chúng. Đó là cơn giận của công chúng tuy phùng lên rất cao nhưng cũng rất chóng tàn. Và khi quần chúng giận càng cao thì các lệnh tạm ngưng của ông Dũng càng làm cho người dân hể hả, càng dễ nguôi giận, và nhất là càng "khoái" thủ tướng. Còn ai nhớ mức "khoái" của dân cao tới cỡ nào không khi ông Dũng đích thân về Hải Phòng chủ trì cuộc họp kiểm điểm vụ Tiên Lãng?

- Một khi lửa giận của dân về một vụ việc đã nguội xuống thì sẽ rất khó bùng lên lại, đặc biệt là khi sự chú tâm của quần chúng đã chuyển sang những vụ bất bình mới và "chán chuyện cũ".
- Sau đó giới quan chức chỉ cần làm các bước: (1) Răn đe những người dân đi đầu trong đợt lên tiếng vừa qua để bịt miệng họ lại; (2) Coi lại việc chia lời cho đồng đều hơn để đừng có chuyện cán bộ bên trong xì tin ra ngoài nữa; và (3) Tiến hành dự án trở lại một cách kín đáo, êm thắm hơn.
Thế là mọi chuyện đâu lại hoàn đấy. Các quan vẫn tiền đầy túi. Chi phí, lỗ lã, thiệt hại môi sinh cứ ném vào quĩ công, đất công là xong. Trong lúc lòng biết ơn thủ tướng lại dâng tràn - không chỉ từ hàng ngũ quan chức mà cả từ quần chúng. Thế là lãnh đạo mỉm cười: "Đàn cừu đã qua đồng cỏ khác".

Rõ ràng đã đến lúc những người muốn tạo đổi thay tích cực và cơ bản cho đất nước phải thay đổi một vài định nghĩa, phải nhận chân một số hiện tượng thực tế. Đó là:
- Mỗi tuyên bố "cần điều tra làm rõ" hay "yêu cầu địa phương báo cáo" đều chỉ là những cái mỉm cười khinh thường của lãnh đạo đối với "đàn cừu". Lý do đơn giản là vì các dự án ở mức trăm tỉ, ngàn tỉ đồng đều KHÔNG THỂ KHÔNG CÓ sự xin phép và chia phần với trung ương. Không một quan chức địa phương nào muốn giữ ghế lâu dài lại dám băng qua khâu đó. Văn phòng chính phủ không những biết rất rõ các chi tiết từng dự án mà còn biết trước mức đội trần sẽ là bao nhiêu, biết những ai xứng đáng được chia phần, và chia bao nhiêu phần trăm.
- Vì vậy, mỗi lệnh "tạm ngưng" đều chỉ là cái nháy mắt trấn an của trung ương gởi tới địa phương, với thông điệp: chờ chút rồi ai cũng có phần! Do đó, ngày nào chúng ta còn hài lòng với các lệnh "tạm ngưng" ngày đó chúng ta còn rớt trở lại cái bẫy vừa đơn giản vừa tinh vi của thủ tướng.

Từ thực tế đó, đối với những ai muốn đổi thay thực sự, lằn ranh tối thiểu hiện nay trước mỗi vụ việc hại dân hại nước tới mức như vụ xây tượng đài Sơn La phải là những đòi hỏi cách chức hay thuyên chuyển các quan chức trách nhiệm trực tiếp và đòi phải tuyên bố công khai hủy bỏ dự án. Ai nghĩ rằng lằn ranh đó quá cao, quá khó thì xin cứ nhìn lại khối sức mạnh từ quần chúng chỉ trong vài ngày vừa qua. Và chính tiềm năng còn cao hơn nữa của ngọn lửa này đã khiến nhà cầm quyền phải đối phó lập tức. Người dân, một khi đồng lòng và đồng loạt, có sức mạnh còn lớn hơn thế nhiều trong tay nhưng chỉ chưa biết đến nó và chưa dùng nó mà thôi.
Công việc còn lại của các nhà hoạt động là làm sao để quần chúng không mệt mỏi, bị đánh lạc hướng hay rơi vào các bẫy thủ thuật của những kẻ đang mỉm cười bí hiểm.


Đất nước của những tượng đài vô cảm

Nguyễn Văn Tuấn
Hàng loạt địa phương có dự án xây dựng tượng Hồ Chí Minh (1). Có thể xem đây là một phong trào. Phong trào xây thêm tượng vốn đã quá nhiều ở đất nước này. Nhưng ý nghĩa của phong trào này là gì thì không ai rõ. Chỉ có thể giải thích rằng phong trào này xuất phát từ ý tưởng kinh doanh hình tượng lãnh tụ, và như thế là một sự khinh thường người dân đóng thuế.

Tôi có cảm tưởng rằng Việt Nam là một nước có nhiều tượng đài nhất nhì thế giới. Đi từ thành phố đến tỉnh lẻ và làng xã, hầu như chỗ nào cũng có một vài tượng đài. Có nơi có hàng chục tượng lớn nhỏ đủ kiểu. Ví dụ như Hà Nội đã có hơn 30 tượng đài, và người ta đang lên kế hoạch xây thêm hơn 30 tượng khác từ nay đến 2020. Sẽ rất thú vị nếu biết con số thống kê về tượng đài trên cả nước, nhưng với con số trung bình 20 tượng đài/tỉnh, tổng số tượng đài rất có thể lên đến con số hàng ngàn.

Tôi nghĩ người Việt Nam chúng ta từ xưa đã rất quan tâm đến tượng, nhưng ý nghĩa thì không giống như kiểu xây tượng đài ngày nay. Ngày xưa (trước 1975) ở miền Nam cũng có (tuy không nhiều) tượng đài, nhưng đa số là tượng của các anh hùng dân tộc. Chúng ta đã biết ở Sài Gòn có những bức tượng nổi tiếng như Trần Hưng Đạo, Trần Nguyên Hãn, Thánh Gióng, bên cạnh những tượng Phật Thích Ca và Chúa Jesus. Còn ở Rạch Giá có tượng Nguyễn Trung Trực rất nổi tiếng, nghe nói sau 1975 bị "cách mạng" cho xe tải đến kéo sập, nhưng không sập và thế là còn tồn tại đến ngày nay. Người dân xem tượng là cái gì linh thiêng, để tôn thờ; nếu không tôn thờ thì cũng là nơi để tỏ lòng kính trọng.

 Do đó, dù là đơn giản được cấu trúc bằng đất sét, nhưng không ai dám phá các tượng.

Ở miền Nam sau 1975 thì các tượng đài theo kiểu XHCN mới bắt đầu xâm nhập các miền quê và tỉnh lẻ. Sau 1975, các tượng đài trở thành đối tượng để ngắm nhìn là chủ yếu, chứ không phải để thờ phượng. Hồi còn nhỏ, tôi chưa biết cảm nhận được cái đẹp của những bức tượng đó; phải đến sau 1975 có dịp so sánh với các bức tượng theo motif XHCN (sẽ nói sau) tôi mới thấy cái thẩm mĩ và dân tộc tính của những bức tượng trước 1975.

Cái đặc điểm chủ yếu của các tượng đài Việt Nam là liên quan đến các sự kiện và nhân vật "cách mạng." Phổ biến nhất có lẽ là tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tính đến nay đã có 31 tỉnh thành xây dựng tượng đài Hồ Chí Minh, và sẽ có 58 tượng Hồ Chí Minh sẽ được xây dựng từ nay đến 2030. Đi đâu cũng thấy ông, lúc thì giơ tay chào ai đó, lúc thì mặc cái áo khoác hờ hững, lúc thì nhìn ra sông (như tượng ở Cần Thơ), lúc thì nhìm chằm chằm vào người đối diện, lúc thì ôm trẻ em, v.v. Nói chung là ông xuất hiện khắp nơi và dưới vài kiểu cách. Kế đến là những nhân vật từng là đồng chí hay đàn em của ông. Một số khác là các tượng đài ghi lại một sự kiện xảy ra trong thời chiến tranh, và những tượng này không phải ai cũng biết và hiểu. Nhưng nhìn chung, các tượng đài sau này được dựng lên chủ yếu là để ngắm nhìn, thỉnh thoảng làm nơi chụp hình, chứ không phải là các tượng đài cho sự tôn kính và thờ phượng.

Một đặc điểm nổi bật sau này là rất ít những tượng đài liên quan đến các nhân vật trong lịch sử trước "cách mạng". Tượng Lê Lợi ở bùng binh Cây Gõ đã bị cho "ra đi" không trở lại. Ngoài một số ít tượng đài mà Việt Nam Cộng hòa để lại (như tượng Trần Hưng Đạo, Trần Nguyên Hãn (cũng sắp ra đi), Thánh Gióng, v.v.) tượng của các anh hùng thời xưa đều bị thay thế bằng các đồng chí của cụ Hồ hay các sự kiện liên quan đến “cách mạng”. Có thể xem sự phân bố tượng đài vừa là một cách tuyên truyền, mà cũng là một cách xem thường và ngạo mạn với lịch sử.

Có thể nói rằng hầu hết các tượng đài “cách mạng” khá thô kệch và thiếu tính dân tộc. Tôi không phải là nhà điêu khắc, nên không biết phân tích sao cho có hệ thống; tôi chỉ biết nói lên cảm nhận cá nhân mà thôi. Cảm nhận của tôi là các bức tượng do các nhà điêu khắc Việt Nam thiết kế mang tính xã hội chủ nghĩa (XHCN). Nói trắng ra là bắt chước. Bắt chước Tàu, bắt chước Nga. Chẳng hạn như hình dưới đây cho thấy cách thiết kế tượng chủ tịch Hồ Chí Minh theo kiểu giơ tay là bắt chước theo tượng của Mao Trạch Đông và Kim Nhật Thành. Các loại tượng khác cũng thế. Vì bắt chước các nước vốn là thủ đô của tuyên truyền, nên các tác phẩm tượng đài của Việt Nam không có tính nghệ thuật cao, nếu không muốn nói là lai căng.

Chẳng những lai căng, mà còn rất thô và rất phi dân tộc tính. Rất nhiều bức tượng nhìn cứ như là những viên đá sắp xếp lại cho có thứ tự, chứ không có hồn. Thử nhìn và so sánh hai bức tượng Trần Hưng Đạo dưới đây sẽ thấy. Thử so sánh bức tượng Trần Nguyên Hãn hay tượng Thánh Gióng và bức tượng gì mà có mấy người chụm lại chung quanh những tảng đá màu trắng ở Sài Gòn sẽ thấy rất khác (xem hình). Một bên là thanh thoát và gần gũi, một bên là nặng chịch, dữ tợn. Hay hãy so sánh với bức tượng "Thương tiếc" (2) trong nghĩa trang Biên Hoà (nay đã bị giật sập) các bạn sẽ thấy tôi so sánh không quá đáng. Còn các nhân vật trong tượng đài XHCN thì thường được cho mập ú (không giống người Việt), lực lưỡng (như ông Tây), tay lúc nào cũng giơ cao, có khi tay cầm búa hoặc lưỡi liềm (rất ghê), có khi tay nắm lại như sắp đánh lộn, có khi tay mang súng trông rất hung dữ như sắp bắn ai, mặt thì lúc nào cũng vênh váo, v.v. Tóm lại, những bức tượng đó chẳng giống thần thái của người Việt chút nào cả.
Hay có khi họ tạc tượng Lý Thái Tổ (ngoài Hà Nội) thì lại trông giống một ông vua Tàu nào đó, như Tần Thuỷ Hoàng! Bức tượng Lý Thái Tổ còn làm cho ông già đến tuổi 60 trong khi ông dời đô về Thăng Long mới 36 tuổi. Có thể nói rằng những công trình tượng đài đang ngự trị ở Việt Nam ngày nay, dưới cái nhìn của một người bình thường, là những hình tượng thô kệch, xa lạ, vô hồn, phi dân tộc, và lai căng.

Các tượng đài ở Việt Nam còn rất kém chất lượng. Chẳng đâu xa, mới đây bức tượng lớn mới được khánh thành gọi là “Mẹ Việt Nam Anh Hùng” bị hư hỏng do… sét đánh. Bức tượng ở Quảng Ninh trị giá 25 tỉ đồng khi bị sét đánh mới tiết lộ chất lượng chẳng ra gì. Tượng Phật mới xây thì bị sập. Ngay cả tượng đài ở Điện Biên Phủ (41 tỉ đồng) cũng cùng chung số phận bị hư hỏng dù chỉ mới khánh thành, thậm chí còn bị rút ruột 30%. Nói chung là bất cứ tượng đài hoành tráng nào do Việt Nam xây đều có vấn đề về phẩm chất.

Chính vấn đề phẩm chất đặt câu hỏi lợi ích đằng sau phong trào xây dựng tượng Hồ Chí Minh. Người ta phải hỏi ông cụ Hồ đã có quá nhiều tượng trên khắp nước, lí do gì để xây thêm cho ông. Chẳng có lí do nào thuyết phục cả, ngoài lí do lợi ích nhóm hay lợi ích cá nhân. Ai cũng biết ở Việt Nam có xây dựng là có “chia chác”, có lại quả (kickback), hay nói trắng ra là có tham nhũng. Xây càng nhiều, lại quả càng cao, như một bài báo rất sinh động vừa phản ảnh (3).

Thật ra, nhìn toàn cảnh, phong trào xây tượng Hồ Chí Minh chỉ là một nhánh trong phong trào bao quát hơn. Đó là phong trào xây dựng viện bảo tàng, Văn Miếu, và đài tưởng niệm. Có lẽ khởi đầu là mấy đền thờ của những nhân vật như Lê Đức Thọ, Võ Văn Kiệt, Phạm Hùng, Nguyễn Văn Linh, v.v. dần dần lan sang đền thờ của ba má ông cụ Hồ. Sau đó là trào lưu xây viện bảo tàng, có khi lên đến hàng vạn tỉ đồng. Sau viện bảo tàng là đến văn miếu, dù người chủ trương xây chưa biết thờ ai! Sau văn miếu, như chúng ta thấy là đến tượng chủ tịch Hồ Chí Minh. Tất cả là một dòng chảy về xây dựng, nó y chang như trào lưu bên Tàu, nơi mà tượng đài và khu du lịch được xây dựng rất nhiều.

Tôi đếm sơ qua những tượng đài và đền miếu xây trong thời gian gần đây (ở Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Hà Tĩnh, Nghệ An, v.v.) thì số tiền bỏ ra đã hơn 1300 tỉ đồng (tức khoảng 65 triệu USD). Ngay Sơn La đòi xây tượng Hồ Chí Minh với cái giá 1400 tỉ đồng thì không ngạc nhiên ai nghe tin cũng sốc. Càng sốc hơn khi Sơn La là một trong những tỉnh nghèo nhất ở Việt Nam, với tỉ lệ nghèo là 64%. Thật ra, các tỉnh vừa kể đều là những tỉnh nghèo hay rất nghèo. Ví dụ như Hà Giang và Điện Biên có tỉ lệ nghèo lên đến 71%. Nghèo mà đòi xây tượng nghìn tỉ đồng thì người bình thường nhất cũng nghĩ đến cái lợi ích đằng sau việc xây tượng.

Điều đáng nói là những lợi ích đó đã làm mờ mắt những người có quyền chức. Tại sao họ lại nghĩ đến việc xây tượng đài trong khi đất nước còn nghèo và người dân còn đói. Như Quảng Nam, mới xây xong tượng đài hoành tráng là ngay sau đó phải đi xin viện trợ gạo để cứu đói. Nghệ An và Hà Tĩnh cũng thế, cũng xin gạo trong khi có những dự án lớn nhằm vinh danh những người trong gia đình của ông cụ Hồ! Tại sao các quan chức không cảm thấy động lòng khi một em bé 10 tuổi ở Hà Tĩnh vì đói quá mà phải chết trên đường từ trường học về nhà (5). Đừng nói một cách vô cảm rằng đó là trường hợp cá biệt. Phong trào xây tượng đài nó chẳng những thể hiện cái tâm của các quan chức có vấn đề, cái tầm của họ quá thấp, mà còn thể hiện một sự ngạo mạn của họ trước những người dân nghèo đóng thuế để nuôi dưỡng họ. Những tượng đài như Sơn La đang có dự án xây dựng, nếu thực hiện, chỉ có chức năng chính là lưu lại cho đời sau một chứng tích của một trào lưu vô cảm từng một thời ngự trị trên đất nước này.
====
clip_image001
clip_image002
clip_image003
N. V. T.


Thông tin về sức khoẻ lãnh đạo: Bí mật hay công khai?

Thông tin về sức khoẻ lãnh đạo: Bí mật hay công khai?

Đoàn Hùng

       Cùng tác giả:

          xem tiếp
Mới đây, sau cuộc họp thường kỳ tháng 7 tại trụ sở chính phủ hôm 31/7, ông Nguyễn Bắc Son, bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông đã nói với phóng viên Vietnamnet rằng: không có “vùng cấm” nào đối với thông tin về sức khoẻ của lãnh đạo, sau khi xảy ra vụ úp úp mở các thông tin liên quan đến sự sống chết của Tướng Phùng Quang Thanh.

Ông Nguyễn Bắc Son nói rằng lãnh đạo đảng và nhà nước là người của công chúng, do đó khi người dân quan tâm đến sức khoẻ của lãnh đạo, các cơ quan của đảng và nhà nước đều phải có bổn phận cung cấp thông tin kịp thời.
Ông Son còn nói rằng uy tín, sức khoẻ và hình ảnh của lãnh đạo là tài sản quốc gia nên việc các cơ quan phải chủ động thông báo khi dư luận quan tâm là điều phải làm cấp thời…. không để thế lực thù địch lợi dụng.

Khi phóng viên Vietnamnet nhắc đến vụ đưa tin quanh sức khoẻ của Tướng Phùng Quang Thanh vừa qua, Nguyễn Bắc Son đã cao giọng nói rằng “các cơ quan đã cung cấp thông tin khá đầy đủ” và nhất là cuộc họp báo của đại diện chính phủ đã đáp ứng đúng yêu cầu, chỉ có “những thế lực xấu” lợi dụng mạng xã hội loan tin tiêu cực mà thôi.

Nếu thật sự đảng và nhà nước CSVN đáp ứng các thông tin đầy đủ liên quan đến sự quan tâm của dư luận về tình hình sức khoẻ của Tướng Phùng Quang Thanh như ông Nguyễn Bắc Son nói ở trên có lẽ tình hình đã khác.

Đàng này, CSVN cho thấy là họ hoàn toàn bị động và các phản ứng đều đi sau thời cuộc liên quan đến sức khoẻ và hành tung của Tướng Thanh.

1- Sau khi các tin tức loan tải tướng Thanh bị ám sát tại Paris, một tuần sau Ban bảo vệ sức khỏe trung ương mới lên tiếng xác nhận là tướng Thanh đang đi Pháp chữa bệnh, nhưng không có bất cứ hình ảnh hay âm thanh chứng minh.
2- Khi hãng thông tấn DPA loan tin Tướng Thanh qua đời sau cuộc giải phẫu, ngày hôm sau (20/7) lãnh đạo Bộ quốc phòng mới lên tiếng phủ nhận nhưng cũng không đưa ra hình ảnh hay âm thanh cho thấy Tướng Thanh còn sống.
3- Khi thấy dư luận vẫn còn lùng bùng về sự sống chết của Tướng Thanh, lãnh đạo Bộ quốc phòng mới công bố ngày trở về từ Pháp của Tướng Thanh là 25/7 trên chuyến bay của VN Airlines, nhưng lại không có bất cứ hình ảnh nào cho thấy Tướng Thanh trở về trong chuyến bay này.

4- Tướng Thanh được cho xuất hiện trong chương trình giao lưu văn nghệ “khát vọng đoàn tụ” đêm 28/7; nhưng những ngày sau đó Tướng Thanh không còn xuất hiện trong các cuộc họp của chính phủ, thường trực quốc hội mà phía đảng và quân đội không có một lời giải thích.

Qua những cách đối phó vô cùng lúng túng về tin tức liên quan đến sức khoẻ của Tướng Thanh cho thấy là CSVN không chủ động trong việc loan tin như ông Nguyễn Bắc Son nói ở trên.

Nói cách khác là CSVN vẫn coi sức khoẻ, hành tung của lãnh đạo là bí mật quốc gia. Chính não trạng “bí mật” này đã dẫn đến hiện tượng “mờ mờ ảo ảo” khi phải đối phó sức ép của dư luận.

Trước đây khi Hà Nội còn khả năng kiểm soát chặt chẽ về truyền thông, toàn thể xã hội sống trong không khí bưng bít và khủng bố bao trùm nên ít ai quan tâm đến vấn đề sức khỏe hay sống chết của lãnh đạo.

Ngày nay, nhờ truyền thông mạng, người dân đã có thể bày tỏ ý kiến cũng như những nghi vấn một cách công khai về mọi vấn đề họ quan tâm. Tình hình này đã và đang đẩy đảng CSVN rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan.
Nếu Hà Nội phải bạch hóa mọi chuyện thì chính yếu tố này làm soi mòn quyền lực độc tôn. Còn nếu trả lời cho lấy có như hiện nay thì liên tục bị thách đố bởi những nghi vấn của công luận.
Đây là hậu quả của đường lối cai trị bưng bít thông tin và giáo dục ngu dân của hầu hết các chế độ Cộng sản. Nó cũng là một báo hiệu cho thời kỳ suy thoái và sụp đổ của những chế độ gây ra quá nhiều tội ác đối với nhân dân.
Đoàn Hùng

Nhìn vào hậu trường

https://nhacsituankhanh.files.wordpress.com/2015/08/pbtv_bia_biengioi1.jpg
Cuối năm 2006, có một ca sĩ từ Hà Nội vào Sài Gòn trong một tâm trạng trầm uất nặng nề, do vướng vào một scandal tình ái ngoài ý muốn, chuyện rất ầm ĩ trên internet. Năm đó, muốn giúp cô quay lại với sân khấu, tôi quyết đưa cô vào danh sách biểu diễn trong một chương trình văn nghệ ngoài trời, diễn ra tại trung tâm thành phố. Dĩ nhiên, đó là một cuộc tranh đấu vật vã muôn phần để vượt qua các hàng rào kiểm duyệt ý thức lẫn thói đạo đức giả của các người có chức phận lúc đó.

Ấy vậy mà, khi đến tiết mục của cô, khi chỉ mới hơn 10 giây nhạc dạo của bài hát mà cô vẫn hay trình diễn, một viên chức mặt còn măng sữa của Thành Đoàn TNCS đã lao đến chỗ tôi và hét lên “ai cho loại người này lên sân khấu?”. Thậm chí, dù cô ca sĩ đó đang hát được gần nửa bài, viên chức đó vẫn loay hoay mưu tìm cách đuổi cô ca sĩ ấy xuống.

Nói đến vậy, để biết, ở Việt Nam, kiểm duyệt là một bàn tay sắt với mọi loại chương trình, đặc biệt chương trình gọi là trực tiếp với công chúng. Bất chấp nội dung là gì, ý thức chính trị và kiểm duyệt len lỏi vào mọi nơi: từng chữ của một bài hát, từng chiếc áo trong phòng hoá trang của nữ diễn viên, thậm chí động tác trên sân khấu cũng được ràng buộc bởi những quy tắc nào đó, để phù hợp với sân khấu xã hội chủ nghĩa. Thậm chí để bảo đảm tính an ninh chính trị, hầu hết các chương trình gọi là trực tiếp, vẫn phát trễ sau 30 phút của giờ diễn thật.

Nên, khi NSND Lê Hùng nói rằng đoạn nhạc quốc ca thứ hai của người Trung Quốc chỉ có mười mấy giây đó, là một việc sơ xuất và có vẻ như không đáng, là điều khó tin được. Mười mấy giây của bài hát ngợi ca Trung Quốc trong chương trình mang tên Khát vọng đoàn tụ – một chương trình diễn ra vào ngày 27/7 vừa rồi để tưởng nhớ đến những người lính Việt Nam đã chết, mà gần nhất trong lịch sử là chết oai hùng, chết tức tưởi… để bảo vệ đất nước trước quân xâm lược Trung Quốc. Sơ xuất là điều đáng để mổ xẻ.

20 năm trước, khi công ước Berne về bản quyền chưa đến Việt Nam thì mọi chuyện thờ ơ ấy, tạm gọi là có thể, nhưng giờ đây, hầu như chương trình nào, tiết mục nào khi có nhạc vang lên, đạo diễn và những người kiểm soát sân khấu vẫn đặt câu hỏi thường nhật là “nhạc ấy ở đâu, dùng được không?”.

Trong mọi câu trả lời trên mặt báo, trong các lời giải thích tạm bợ và vội vã, đều không thấy việc chỉ đích danh ai đã đưa đoạn nhạc kỳ bí ấy vào chương trình ngày 27/7. Theo nguyên tắc tổ chức thì luôn luôn, đoạn nhạc đó phải được duyệt, chấp nhận và được chính thức đưa vào danh sách phát. Có hẳn người phụ trách riêng để làm việc này theo kịch bản. Nếu người phụ trách không thay đổi, thì chỉ có một điều là đoạn nhạc ngợi ca Trung Quốc đã được “nhất trí cao độ” để đưa vào sử dụng.

Trên các trang mạng, tôi thấy nhiều người nói rất nặng ông Lê Hùng là giặc tàu, tên bán nước…tôi không nghĩ ông Hùng dám cam tâm tự mình thực hiện phát nhạc nền Trung Quốc cho chủ tịch Trương Tấn Sang như trong một âm mưu. Gương mặt của ông trên các trang báo khi trả lời phỏng vấn, có một đôi mắt thể hiện một người luôn hãnh tiến nhưng giờ thì hốt hoảng và sợ sệt trong một tai nạn. Nên nhớ vị trí NSND trong lòng các nghệ sĩ miền Bắc là vô cùng lớn lao. Họ luôn tự hào khi viết lá đơn xin danh hiệu đó cùng với tâm trạng thề sẽ cúc cung tận tuỵ, như một nghệ sĩ cung đình chân thành.

Nếu có trách, hãy trách chuyện mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam nhiều năm bị cưỡng bức tắm và uống trong tình hữu nghị 16 chữ vàng với Trung Quốc. Những lần tránh né gọi thẳng tên kẻ gây ra các vụ xung đột, cướp bóc và giết ngư dân Việt trên biển, thay thế bằng “tàu lạ, kẻ lạ”, khiến khoảng cách của ý thức phân định ta – giặc bị mù mờ. Thậm chí ngay cả sách lịch sử giáo khoa Việt Nam cũng ngại việc gọi tên Trung Quốc là giặc xâm lược, thì âm nhạc ca ngợi ta hay nhạc ca ngợi “nước lạ” cũng mù mờ vậy thôi. Thời gian bào mòn ý thức và sự tỉnh táo về dân tộc và ngoại bang mới đáng sợ làm sao!

Nếu có trách, hãy nhớ và trách ai đó – bí ẩn và khốn nạn – tìm cách xoá đi sự thật. Những kẻ rắp tâm kéo kẻ thù gần với dân tộc hơn bằng thực phẩm, bằng trò vui và tập quên những nỗi đau lịch sử. Nhà báo Huy Đức từng nhắc về chuyện biên giới tháng 2/1979, sau chiến tranh, Bắc Kinh đột nhiên thành bạn răng môi, những ghi nhớ tội ác xâm lược của Trung Quốc đột nhiên mất dần. Tấm bia ghi nhớ ở xã Hưng Đạo, huyện Hoà An về quân xâm lược Trung Quốc dùng búa đập chết 43 phụ nữ và trẻ em như một trò chơi bị giấu đi vào bụi rậm. 

Mới đây nhà báo Lê Đức Dục cũng cho biết bia tưởng niệm ở đồn biên phòng Phú Mỹ, Kiên Giang cũng bị giấu đi mất dạng. Bia nói về 38 người lính chết anh dũng ở đây để chống lại quân Khmer Đỏ, cánh tay mặt chia lửa của Trung Quốc. Hôm nay, nếu thường dân và NSND Việt Nam có lầm lạc về kẻ thù do cứ bị giấu nhẹm dần, thì đó cũng là lẽ đương nhiên.

Nam Phong tạp chí số 143 (1929) có ghi lại chuyện Mạc Cửu thần phục nhà Nam năm 1714, nhưng vẫn mang theo tâm khí truyền đời của giặc Phương Bắc, nên vẫn tìm cách trấn yểm linh khí đất Nam, nhằm có cơ hội cướp cả triều đình. Trong sách nghiên cứu Thất Sơn Huyền Bí của Dật Sĩ và Nguyễn Văn Hầu có ghi lại chuyện nhiều đời họ Mạc cũng như các thầy địa lý đi từ Tàu sang, chôn cọc có trấn bùa ở Tịnh Biên, Bảy Núi, để mong huỷ diệt anh linh Việt. 

Từ năm 1849 cho đến 1856, đức Phật Thầy Tây An từng gửi thư cho Đức Cố Quản Thành để nhắc phòng ngừa chuyện này. Hiện một vài di tích về âm mưu này, trước năm 1975, vẫn còn được để ở dinh thờ tại Láng Linh (Châu Đốc), gồm cọc bùa và thẻ, bùa chú ghi tiếng Tàu, chôn giấu ở núi và sông vùng Bảy Núi, được tìm thấy.

Thế giới hiện đại không thể có tình đại đồng bất phân như trong sách thiếu nhi. Người Trung Quốc vẫn ghi nhớ người Nhật là kẻ thù. Người Do Thái ghi tâm người Đức không thể là bạn. Người Campuchia thì dễ hiềm khích với người Việt, và người Tây Tạng, người Duy Ngô Nhĩ, người Việt Nam không có cớ gì quên đi lịch sử rằng mình có những lý do phải lo ngại Trung Quốc.

Việc bào mòn ý thức ấy, cũng như những thẻ bùa yểm mà “kẻ lạ” đã từng âm thầm cài đặt trên đất nước Việt nhằm huỷ diệt nguyên khí tổ tiên để lại. Mà hôm nay, đoạn nhạc “mười mấy giây” ngày 27/7 nhắc nhở và thúc đẩy đoàn tụ với tổ quốc xa xôi nào đó, chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. 

Điều cần phải tìm và giải quyết là phải nhổ bật mọi cọc nhọn được cài đặt, đang nhằm vào trái tim Việt, mà cay đắng thay, kẻ đóng cọc có thể không phải từ “nước lạ” lén lút đến, mà ngang nhiên là từ những người cùng màu da, tiếng nói nhưng linh hồn đã lạc loài.

Trách phạt một chương trình văn nghệ hay kỷ luật ông Lê Hùng đâu có nghĩa lý gì. Và chúng ta cũng đừng dễ dàng hài lòng với một kết quả quá nhanh và quá nguy hiểm như vậy. Chuyện “chỉ mười mấy giây” ắt đã phải bắt nguồn từ mười mấy năm, hoặc hơn. Đừng nghe những gì họ đang nói, mà có lẽ nên nhìn kỹ hơn những gì họ đã làm.


Saturday, 1 August 2015

​THƯ GỬI ÔNG NGUYỄN PHÚ TRỌNG


Matthew Trần:

Mèxừ Hồ Ngọc Nhuận (HNN) viết bài ni, đọc nghe được …
NHƯNG .. nếu anh ta viết và fỗ biến đúng THỜI ZAN như vào những thập niên ‘50 & ’60 thế kỹ 20 thì hay biết mấy.

Tui còn nhớ: vào thời zan đó, anh ta tuyên bố & hành động có lợi cho địch (CS) không hà !! Thiệt đáng tiếc.

MT

THƯ GỬI
ÔNG NGUYỄN PHÚ TRỌNG

Hồ Ngọc Nhuận

Tôi có mấy chữ gửi ông Trọng, về chuyến đi Mỹ của ông.
Nhiều người nói ông Trọng không đảm nhiệm chức vụ chánh thức nào trong chính quyền Việt Nam, ông đang lãnh đạo “một đảng duy nhất” độc quyền chính trị trong một chánh thể độc tài, với thành tích nhân quyền tệ hại nhất, với tình trạng về tự do báo chí và tự do ngôn luận ảm đạm nhất, nhưng ông lại được nhà lãnh đạo đứng đầu thế giới tự do đón tiếp. Đó là một khích lệ không nhỏ đối với ông, nhưng lại là điều đáng tiếc đối với nhiều người.

Người ta cũng nói ông đứng đầu một chế độ liên tục đàn áp, bắt bớ giam giữ có hệ thống các nhà hoạt động chính trị và xã hội, liên tục vi phạm các “nghĩa vụ quốc tế về nhân quyền”, và không bao giờ giữ lời cam kết cải thiện chế độ cho phù hợp với những nguyên tắc nhân quyền phổ quát, nhưng ông vẫn được Tổng thống Hoa Kỳ chấp nhận đón tiếp một phần là nhờ ông đang lãnh đạo trên thực tế một đất nước có ít nhiều giá trị đối tác.

Một phần nữa là vì Trung Quốc ngày càng có những hành động bạo ngược quá đáng trên biển Đông, nơi mà Hoa Kỳ đang có một số lợi ích chiến lược. Tổng thống Mỹ tiếp ông cũng là nhân cơ hội mà tiếp thêm sức cho ông thoát khỏi phần nào cái ách lệ thuộc Trung Quốc, mở đường giúp ông tránh xa bóng tối mà đến gần hơn với ánh sáng. Nhưng phần lớn là vì quyền lợi Mỹ là trên hết. Mà quyền lợi Mỹ, suy cho cùng, cũng là quyền lợi của Thế Giới Tự Do, Thế Giới Văn Minh, Dân chủ, Dân quyền và Nhân quyền.

Có thể nói thêm : Quyền lợi Mỹ, về nhiều mặt, cũng là quyền lợi của mấy triệu đồng bào Việt Nam ở Mỹ, tức mấy triệu người Mỹ gốc Việt, và về mặt nào đó, là của cả người Việt Nam đang đấu tranh vì tự do ở trong nước. Ông đi thăm Mỹ cũng là bước đầu đi đến đồng bào Việt Nam ở Mỹ, dù là gián tiếp, dù có thể không ai gặp ai. Sau lần nầy có thể còn lần khác, sau người nầy có thể còn người khác. Để có một lần sau khác, khác hơn.

Tôi có mấy chữ gửi ông là vì có mấy thứ thực tế có phần nào đáng khích lệ đó. Chớ không phải vì “người Việt Nam chưa bao giờ được sống trong bầu không khí dân chủ như hiện nay”, theo như ông đã giở giọng tuyên truyền vừa rồi với báo chí Mỹ.

Bởi khi ông đem khoe bầu không khí dân chủ độc đảng của ông, thì Tổng thống Mỹ cũng đã nói cho báo chí Hoa Kỳ và thế giới biết là “đã thảo luận thẳng thắn một số những khác biệt xung quanh vấn đề nhân quyền” với ông. Mà “thẳng thắn nói về những khác biệt” là thế nào ? Không lẽ là gật gù khen cái “chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa triệu lần hơn chế độ dân chủ Mỹ” ? 

Hay là nhắc ông đừng có trắng trợn gọi là “thể hiện vai trò lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của đảng, bằng cách quy hoạch,bổ nhiệm, bố trí đảng viên giữ các chức vụ chủ chốt, lãnh đạo trong Chính phủ, trong Quốc hội, trong lực lượng an ninh, trong quân đội, trong Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng, trong Tòa án và trong Viện kiểm sát, trong các ngành các cấp chánh quyền từ trung ương đến cơ sở”, tóm lại là trong toàn bộ guồng máy nhà nước, gồm cả ba quyền Lập pháp, Hành pháp,Tư pháp, tức là để đảng cộng sản, thực chất là một nhúm lãnh đạo đảng, làm cha mẹ đẻ của tất cả các thứ đó, để rồi tất cả những thứ đó theo lệnh lãnh đạo đảng mà bắt nhốt những ai không nói theo họ, bắt nhốt những người làm báo, làm văn, công khai ôn hòa nói lên nguyện vọng tự do dân chủ của nhân dân ? 

Là nhắc ông đừng có bắt Tổng thống Mỹ và nhân dân Mỹ phải liên tục tiếp đón người dân Việt Nam đấu tranh cho tự do bị các ông trục xuất đi làm công dân tự do ở nước Mỹ, sau khi cầm tù họ trong nhiều năm. Là đừng có xua bộ hạ chận đường hành hung những người Việt Nam có nguyện vọng sống dân chủ.

Khi ông nhớ lại ông Hồ Chí Minh từng nhiều lần viết thư cho các Tổng Thống Mỹ đặt vấn đề về mối quan hệ Việt Mỹ trong quá khứ và về nhiều cơ hội hợp tác Việt Mỹ đã bị bỏ lỡ, thì Tổng Thống B. Obama cũng có thể nhớ lại rằng ông Hồ Chí Minh, khi viết tuyên ngôn độc lập Việt Nam, đã chỉ cóp có khúc đầu tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ, là “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Nhưng lại bỏ sót phần còn lại là : “Các chánh quyền được thiết lập giữa mọi người dân là để bảo đảm cho những quyền đó, và quyền hành chính đáng của các chánh quyền là xuất phát từ sự đồng thuận của những ngưới dân tự đặt dưới quyền họ. Bất cứ lúc nào có một hình thức chánh quyền trở thành phá hoại mục đích đó thì nhân dân có quyền thay đổi hình thức chánh quyền đó, hoặc phá bỏ nó và thiết lập một chánh quyền mới, đặt nền tảng trên các nguyên tắc và tổ chức theo hình thức đối với họ là thích hợp để đem đến cho họ an ninh và hạnh phúc. Khi có một chuỗi dài lạm dụng và tiếm quyền, luôn hướng đến một mục tiêu bất di bất dịch, và khẳng định ý đồ đặt họ dưới nền độc tài chuyên chính tuyệt đối, thì họ có quyền, thì ho có nghĩa vụ loại bỏ một chánh quyền như vậy, và tự mình tạo ra cho mình những bảo đảm mới cho an ninh tương lai của mình” (Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, tạm dịch bản dịch tiếng Pháp từ tiếng Anh, của Thomas Jefferson, năm 1776).

Chính vì ông Hồ Chí Minh đã đút túi cái đoạn vô cùng quan trọng trên đây, là cái nền cho các quyền tự do dân chủ ở Hoa Kỳ, mà đảng ông và những kẻ kế nghiệp ông đã tha hồ gồm thâu thao túng mọi quyền làm dân và làm người, độc quyền cai trị đất nước, lại có người còn hơn một lần ký giấy, trước là giao đảo giao đất, sau là giao cả linh hồn cho Trung Quốc, để mãi mãi trường tồn trong cương vị độc tôn trên đầu dân tộc.

Tôi cũng nói để ông biết : với tư cách là một trưởng nhóm dân biểu đối lập, và là một người làm báo đối lập dưới chế độ Sài Gòn cũ, tôi đã từng vô ra hầu hết các khám đường của chế độ cũ ở miền Nam, kể cả Côn Đảo, mà không hề bị ai ngăn cản, để thăm hỏi, điểu tra về các nhà tu hành, các tù nhân lương tâm, về các tù nhân chánh trị, về những tù nhân thanh niên sinh viên tranh đấu, trong đó có không ít là đảng viên cán bộ đảng Nhân dân, thực chất là đảng cộng sản, mà có người hiện đang còn sống và sẵn sàng làm chứng. 

Còn ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà đảng của ông đang độc quyền cai trị, không cần mon men đến các nơi các ông đang giam giữ hàng loạt công dân vô tội, chỉ thỉnh thoảng muốn đến tham gia sinh hoạt báo chí với bạn bè, cả với các đảng viên cộng sản chán đảng, tôi cũng từng nhiều lần bị tay chân các ông hét từ ngoài ngõ bắt trở vô nhà, để tiếp tục được “sống trong bầu không khí dân chủ chưa bao giờ có như ngày nay” của các ông. Hay có lúc chỉ muốn ra đường cùng đồng bào lên tiếng chống lại bọn giặc bành trướng cướp nước, tôi cũng từng bị người của các ông, thay cho giặc, cấm cửa không cho ra khỏi nhà, để lại tiếp tục được…“sống trong bầu không khí dân chủ chưa từng thấy như hiện nay” của các ông.

Tôi thấy ông Nguyễn Phú Trọng, và những người như ông, của ông hiện nay, rõ ràng là cả đời chỉ biết có hưởng thụ, và cha truyển con nối những quyền lợi được hưởng thụ. Trên lưng của cả một dân tộc. Và nếu có gọi là “đấu tranh” thì thật sự chỉ là “đấu đá” vì quyền lợi riêng tư của mình hay phe phái mình. Nên không biết thế nào là đấu tranh cho quyền con người, đấu tranh để thay đổi vận mạng của mình và vận mạng của dân tộc. Ông Trọng và những người của ông, như ông, vì cả đời thâu tóm tất cả các quyền tự do căn bản của người dân, để tự do muốn làm gì thì làm trên đầu trên cổ người dân, nên cho rằng tuyệt đại đa số người Việt Nam bị đạp xuống làm người dân hạng hai, hạng ba như chúng tôi, khi chưa bị vô cớ chận đường, băt nhốt, thì đã được “sống trong bầu không khí dân chủ” của các ông rồi. 

Mấy chục triệu người Việt Nam hạng hai hạng ba chúng tôi, từ nhiều chục năm nay, chưa hề có một lá phiếu bầu nào cho ông, cũng chưa hề bầu bất cứ một người nào trong các ông, vào bất cứ một chức vụ nào từ chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội, đến các chủ tịch nhỏ to đến các đại biều to nhỏ, trên cả nước, từ khi các ông bê từ đâu đó về cái gọi là “cộng hòa xã hội chủ nghĩa” để gắn lên đầu hai chữ Việt Nam, một chế độ mà hằng chục nước từng bị áp đặt đã thẳng thừng vứt bỏ từ một phần tư thế kỷ qua để nhân dân nước họ được đứng thẳng làm người, nhưng các ông cứ luôn miệng huênh hoang cho đó là “bầu không khí dân chủ mà người Việt Nam chúng tôi chưa bao giờ được sống”, thì đúng là các ông đang làm cái trò “dân chủ hề” như ở Bắc Triều Tiên, mà phiên bản Việt Nam, không có màn dân chúng nhảy múa đầy đường với áo quần lòe loẹt, mà thay vào đó là trò múa mép của các ông bà lãnh đạo đảng.

Nhưng dù sao thì ông cũng đã đến Mỹ, để chí ít cũng hít thở được cái không khí thật sự tự do của một đất nước tự do thật sự. Nên đã tới lúc ông nên vất bỏ cái tròng cộng sản chủ nghĩa quái ác trên cổ mình, và cởi bỏ những xích xiềng trói buộc nhân dân trong chính đât nước mình, buông tha cho người dân Việt Nam chúng tôi khỏi phải tiếp tục bị nhốt trong cái nhà tù lộ thiên cộng sản chủ nghĩa của các ông nữa. Chớ không lẽ ông nghĩ Tổng thống Mỹ tiếp ông là đã bầu cho các ông và chế độ của các ông rồi, nên nhân dân Việt Nam không cần phải có tự do bầu cử, ứng cử, không cần một chế độ dân chủ ?

 Hay ông nghĩ ông được Tổng Tống Mỹ đón tiếp là ông đã được tấn phong làm một thứ lãnh đạo chính danh của một đất nước phải làm nô lệ cộng sản suốt đời ? Cũng như Trung Quốc khi ban cho các ông mười mấy chữ vàng và mấy cái tốt là đã tấn phong các ông cha truyền con nối muôn năm làm thái thú trên đất nước Việt Nam ? Trung Quốc thì có thể như vậy, vì là đàn anh và quan thầy của các ông. Nhưng Tổng thống một nước tự do như nước Mỹ thì ắt phải biết tôn trọng quyền tự do và quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam, thì không thể không biết chính các đảng viên cộng sản Việt Nam ngày càng có nhiều người lên án đảng cộng sản đã phản bội họ, và phản bội quyền lợi dân tộc.

Những đảng viên cộng sản bình thường, yêu nước hơn là yêu chủ nghĩa cộng sản và đảng đó, cũng không hề muốn ông dựa hơi Mỹ để kèn cựa trả giá với đàn anh Trung Quốc của ông trên đầu dân tộc, mà là muốn ông hợp lực cùng đồng bào trong ngoài nước, cùng tạo cơ hội cho đảng cộng sản của ông thoát khỏi sự lệ thuộc tội lỗi đối với kẻ thù truyền kiếp phương Bắc. Một kẻ thù mà suốt mấy mấy ngàn năm lịch sử là xuyên suốt mấy ngàn năm gây chiến xâm lược Việt Nam. Và giờ đây cũng lại dở thói cậy số đông, ỷ mình có thể công kênh nhau lên chiếm lĩnh cả bầu trời thiên hạ, đang dở trò thổi cát lấp biển Đông, âm mưu thôn tính nước ta và các nước láng giềng khác cho bằng được. Một đất nước muôn đời âm mưu bằng mọi cách thôn tính nước khác để lấy đất sống cho dân mình, thì có chỗ dung thân cho vài tên Ích Tắc lẻ tẻ đã là khó, chớ chỗ đâu cho cả một tập đoàn đông đảo ?

Từ lâu tôi đã từng nghe ông Trọng và người của ông luôn miệng lớn tiếng cảnh giác về “âm mưu diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Cái diễn biến hòa bình mà các ông sợ, “nó” rõ ràng cụ thể là gì và như thế nào, tôi không được rõ. Nhưng trong nghĩa nào đó thì chinh ông Trọng, với chuyến đi Mỹ của ông vừa qua, lại muốn đi làm “diễn biến hòa bình ngược” ở Mỹ, tìm cách vận động không chỉ với Tổng thống Mỹ, mà còn với cả bà con người Mỹ gốc Việt. Nếu vậy thì tại sao ông không để cho nhân dân chúng tôi, trong và ngoài nước, cùng thi đua làm diễn biến hòa bình với ông ?

 Ông thì thi đua đánh bóng cho cái chế độ cộng sản đang đi vào bảo tàng lịch sử, còn chúng tôi thì thi đua cùng sống hòa bình hòa hợp, tự do dân chủ và độc lập trên mảnh đất quê cha đất tổ của mình ? Mà không sợ đe dọa bị bắt, bị nhốt, hay bị trục xuất ? 

Trừ phi một lần nữa ông lại tiếp tục nói một đàng làm một nẻo. Trừ phi ông chỉ nói tự do dân chủ khi ở Mỹ, còn khi về Việt Nam thì ông lại tiếp tục cho công an chận đường về nước của người nầy, rút hộ chiếu ra nước ngoài của người khác, lôi ra tòa, tống vô tù bất cứ ai không chấp nhận chế độ độc đảng chủ xã hội chủ nghĩa. Trừ phi ông chết sống cố giữ cho bằng được cái bia miệng “Đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy ngó những gì cộng sản làm”. Để muôn đời mắc tội với lịch sử, với hàng hàng lớp lớp các thế hệ tưởng lai của dân tộc.
Sài Gòn, 23-7-2015
Hồ Ngọc Nhuận


 
Sent from my iPad

Begin forwarded message:
From: Ho Ngoc Nhuan

My Blog List