Đó
hẳn là điều mà giới phân tích thế giới đang phải thốt lên khi chứng kiến những
gì đang diễn ra ở Trung Quốc, khi mà sự dối trá đang lan tràn trong khắp xã hội
cũng như bộ máy quản lý của nền kinh tế thứ hai thế giới.
Khai báo khống mức độ tăng trưởng để lấy thành tích giờ đây đã là một điều lạc hậu ở Trung Quốc, dù
nó vẫn đang diễn ra hàng năm ở hầu khắp các tỉnh thành của nước này, giờ đây
khai báo khống các đề xuất ngân sách cho các dự án phát triển để đục khoét ngân
sách nhà nước mới đang là điều thịnh hành đối với các quan chức tham nhũng ở
Trung Quốc.
So với việc khai báo khống thành tích tăng trưởng hàng năm vốn là điều
đã trở thành thông lệ đối với các quan chức địa phương ở Trung Quốc, thì việc
đưa ra các đề xuất ngân sách cho các dự án ảo được xem là một bước ngoặt của
hoạt động tham nhũng ở nền kinh tế thứ hai thế giới.
Nếu như các quan chức địa phương hoàn toàn có thể khai khống thành
tích tăng trưởng ở địa phương mình lên một chút vào cuối năm mỗi khi báo cáo số
liệu lên chính phủ Trung Quốc, và điều này được xem là an toàn khi đó không chỉ
là một căn bệnh mà địa phương nào ở Trung Quốc cũng mắc phải và chính phủ sẽ
không sờ đến nếu không có những gì lý do đặc biệt, thì nguyên nhân quan trọng
nhất khiến cho các quan chức lãnh đạo địa phương “dám liều” là sẽ rất khó phát
hiện ra những điều chỉnh này.
Việc tính toán các số liệu để đưa ra con số tăng trưởng ở địa
phương là một công việc phức tạp và chỉ có các quan chức ở mỗi vùng mới có thể xử
lý được, con số tăng trưởng sau khi được tính toán xong sẽ được chuyển lên
chính phủ để đưa ra tốc độ tăng trưởng của cả nước.
Vì thế, nếu như việc khai báo khống thành tích là tương đối an
toàn do công việc tính toán số liệu nằm hoàn toàn trong tay chính quyền địa phương,
thì việc đưa ra các đề xuất ngân sách ảo bị coi là nguy hiểm hơn rất nhiều ở Trung Quốc.
Các quan chức cấp bộ ở trung ương có thể dễ dàng kiểm tra tính xác thực các
khoản ngân sách được đề xuất và Ủy ban kiểm tra quốc gia luôn kiểm soát chặt
các nguồn vốn ngân sách. Nhưng sự kiểm soát chặt chẽ đó cũng vẫn không ngăn
chặn được việc số đề xuất ngân sách ảo đang ngày càng tăng lên hàng năm ở Trung
Quốc.
Trong động thái mới nhất, bộ Tài chính Trung Quốc đã tuyên bố sẽ không
cấp ngân sách trị giá 313 tỉ Nhân dân tệ, tương đương với 51 tỉ USD, sau khi
phát hiện ra một loạt các dự án ảo được đề xuất ngân sách trong năm 2015. Sự
tham nhũng đáng báo động của Trung Quốc đã lên tới mức chính phủ giờ đây cũng
đang là đối tượng để các tham quan nước này bòn rút bằng các thủ đoạn mờ ám.
Việc Bộ Tài chính Trung Quốc công khai tuyên bố chấm dứt các khoản
chi ngân sách được gọi là “sai sự thật” này được xem là một đòn nặng giáng
thẳng vào nỗ lực chống tham nhũng của chính phủ nước này. Trong thời gian qua,
chiến dịch chống tham nhũng quy mô lớn vẫn được gọi là “Đả hổ đập ruồi” do Chủ
tịch Trung Quốc Tập Cận Bình triển khai đã gây được một tiếng vang lớn, số quan
chức bị bắt giữ và điều tra đã lên tới 70.000 người, trong số đó có không ít
các quan chức cao cấp nhất.
Nhưng sự cố gắng đó có vẻ như vẫn không làm suy giảm mức độ tham nhũng
nghiêm trọng ở nước này, khi mà giờ đây thay vì các hình thức tham nhũng ngầm
thì các tham quan đã có những hành vi mà nhiều học giả Trung Quốc gọi là tham
nhũng công khai. Thay vì các hình thức
tham nhũng truyền thống như nhận hối lộ hay bòn rút ngân quỹ, các quan chức
Trung Quốc lại liều lĩnh lập ra các dự án giả mạo rồi đề xuất ngân sách nhà nước.
Giới phân tích cho rằng, một phần nguyên nhân dẫn đến tình trạng
này là do sự thắt chặt vấn đề nợ công của các địa phương. Trong bối cảnh tổng
mức nợ công Trung Quốc đang sắp chạm mốc 60% GDP mà quá nửa số đó là nợ công
của các địa phương, việc Bắc Kinh tăng cường kiểm soát nợ công ở các địa phương
đang khiến các lỗ hổng ngân sách ở các địa phương Trung Quốc đang có nguy cơ bị
phanh phui hơn bao giờ hết.
Trong tình hình đó cần có các nguồn tài chính để bù đắp vào các lỗ
hổng này trước khi bị điều tra. Tình hình khẩn thiết đến mức nhiều nhà lãnh đạo
các tỉnh đang bắt đầu một cuộc chạy đua lập ra các dự án phát triển không có
thật ở địa phương của mình để xin cấp ngân sách đầu tư từ trung ương.
Các chuyên gia quốc tế và các học giả Trung Quốc cũng đang cảnh
báo một hậu quả nghiêm trọng từ việc gian lận ngân sách này hơn là sự thất thoát
ngân sách đơn thuần. Trên thực tế, nó đang cảnh báo một xu hướng trong đó chính
quyền ở các địa phương đang tìm cách đẩy khoản nợ công ở địa phương mình lên
cho trung ương, và đây được xem là một hiểm họa khôn lường.
Việc Bắc Kinh bắt tay vào điều tra nợ công ở các tỉnh đang vừa đe
dọa đến chức vụ của các nhà lãnh đạo địa phương, lại vừa đe dọa phanh phui khoản
nợ công khổng lồ ở đây và từ đó buộc các địa phương phải thắt lưng buộc bụng để
thanh toán dần khoản nợ.
Vì thế, bằng cách đề xuất ngân sách cho các dự án ảo, các quan
chức địa phương đang bắt chính phủ ở Bắc Kinh phải gánh bớt một phần khoản nợ công
ở các tỉnh, theo đó chính Bắc Kinh đang phải móc hầu bao ra thanh toán bớt nợ
công cho các địa phương mà không hề hay biết.
Và nếu như từ trước đến nay các học giả Trung Quốc vẫn cho rằng
việc cho phép báo cáo khống thành tích là điều bình thường miễn là trong giới hạn
cho phép, để tô hồng tình hình phát triển của đất nước, thì rõ ràng giờ đây nó
đã không còn đơn giản như thế nữa. Việc cho phép các địa phương khai khống
thành tích cũng đồng nghĩa với việc cho phép họ khai khống để bóp nặn tiền của
trung ương, một khi họ cảm thấy cần thiết.
Lễ hội chém lợn ở làng Ném Thượng, xã Khắc Nam, huyện Tiên Du,
tỉnh Bắc Ninh vào trưa 24/02/2015 (mùng 6 Tết).
Courtesy PNO
Cứ mỗi năm vào dịp xuân về, người dân nô nức tham gia rất nhiều lễ
hội như một hình thức vui chơi giải trí sau một năm làm việc cực nhọc. Lễ hội
là hình thức phát triển và bảo tồn truyền thống văn hóa dân tộc. Một quốc gia
thiếu vắng lễ hội truyền thống thì văn hóa của quốc gia ấy sẽ trở nên nghèo
nàn, buồn tẻ.
Tuy nhiên, phát triển lễ hội để mưu cầu lợi ích bất kể nội dung
lễ hội bị bóp méo, thậm chí thay đổi hoàn toàn sẽ khiến cho bản thân lễ hội trở
nên vô nghĩa và hơn thế, có thể làm biến dạng văn hóa lễ hội khiến chúng trở
nên vô cảm và ảnh hưởng rộng khắp trong người dân.
Hình thức chọi trâu, đâm trâu được xem là bạo lực và cần xem xét
lại dù sao vẫn thua xa hình thức chém lợn, một truyền thống của làng Ném Thượng
đã bị tổ chức Animal Asia phản đối cho là dã man và không phù hợp với văn minh
thế giới.
Bên cạnh bạo lực là mê tín dị đoan đến độ khó hiểu của người dân
và cán bộ nhân viên nhà nước trong lễ hội phát ấn đền Trần cũng là điều đáng
quan tâm. Sự mê tín đến phát cuồng của đám đông được nhiều người cho rằng do
mất lòng tin vào hiện thực xã hội nên người dân tìm về tâm linh để trút bớt
gánh nặng cuộc sống. Dù lý giải cách nào thì hình ảnh lễ hội cũng khó thuyết
phục những ai thực sự quan tâm đến một nền văn hóa sạch, thoát ra mọi cuộc đua
lôi kéo đám đông vào mục đích lợi nhuận bất kể lễ hội mang sắc thái khó chấp
nhận như tình hình hiện nay.
Chúng tôi có cuộc trao đổi với Giáo sư Tiến sĩ Ngô Đức Thịnh, Viện
trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển để tìm hiểu thêm phía sau các
lễ hội ấy là gì và nguyên nhân nào khiến chiếc xe lễ hội mất phanh nghiêm trọng
như vậy.
Nhiều biểu hiện tiêu cực
của lễ hội
Mặc Lâm: Thưa Giáo sư, trong cương vị là một người đang
làm việc và nghiên cứu về văn hóa và di sản Việt Nam ông nhận định thế nào về
các tranh luận của cộng đồng hiện nay về sự biến tướng hay đi quá đà trong các
lễ hội hàng năm?
Một số nơi người ta tổ chức lễ hội không đúng tinh thần của văn
hóa cũng như của phát triển và thậm chí người ta lợi dụng việc tổ chức các lễ hội
để tăng lợi ích cá nhân, mà nói thẳng ra là lợi dụng lễ hội để kiếm tiền, tăng
thêm thu nhập cho mỗi cá nhân hoặc nhóm lợi ích.
-GS Ngô Đức Thịnh
GS
Ngô Đức Thịnh: Tôi làm việc trong Viện
Việt Nam học và Khoa học phát triển cho nên chúng tôi cũng quan tâm nhiều đến
văn hóa và lễ hội sau Tết Nguyên đán này. Phải nói là ở Việt Nam phần lớn các
lễ hội được tổ chức vào mùa xuân, vào dịp tính từ Tết Nguyên đán cho đến hai, ba
tháng sau tết. Lễ hội là truyền thống lâu đời của người Việt Nam và nó có một
vai trò rất lớn là nguồn lực cho sự phát triển về văn hóa về con người nói
chung và tôi cho rằng việc khôi phục lại các lễ hội trong mấy chục năm gần đây
là một điều rất tích cực và phải nói rằng nó thể hiện sự phát triển.
Tuy nhiên một số nơi người ta tổ chức lễ hội không đúng tinh thần của
văn hóa cũng như của phát triển và thậm chí người ta lợi dụng việc tổ chức các
lễ hội để tăng lợi ích cá nhân, mà nói thẳng ra là lợi dụng lễ hội để kiếm
tiền, tăng thêm thu nhập cho mỗi cá nhân hoặc nhóm lợi ích. Tôi cho rằng có thể
nói đây là một biểu hiện tiêu cực của lễ hội trong thời gian gần đây.
Mặc Lâm: Thưa
Giáo sư, Việt Nam đã gắn lễ hội vào những loại hình du lịch được đặt những cái
tên rất hay như du lịch văn hóa rồi du lịch tâm linh, cũng dính líu ít nhiều
tới văn hóa lễ hội. Ông có đồng tình với những gán ghép này nhằm thu lợi nhuận
cho du lịch hay không?
GS Ngô Đức Thịnh: Lễ hội thì nó gắn với dân gian là truyền thống văn hóa của quê
hương đất nước, dân tộc cho nên nó phải gắn với cuộc sống tâm linh cuộc sống
dân gian của cái cộng đồng này. Hiện nay nhiều nơi người ta lấy mục đích là du
lịch lấy cái tên du lịch lễ hội, du lịch văn hóa du lịch tâm linh nhưng mục
đích của họ nhằm kéo nhiều người tham gia vào lễ hội, và mặc nhiên khi tham gia
vào lễ hội như vậy đi kèm với nó là các chi phí đi kèm với lễ hội, thu nhập lấy
được từ lễ hội. Tăng tất cả nguồn thu thí dụ như từ chuyện gửi xe ô tô, xe máy
xe đạp số tiền tăng lên rất nhiều. Thế rồi ăn uống dịch vụ các thứ cũng tăng
lên nhiều gấp 5 gấp 10 lúc bình thường bày ra tất cả các trò chơi để kiếm tiến
là chính, rõ ràng nó đi tới các hoạt động tiêu cực.
Không gian lễ hội vẫn chỉ có thế thôi nhưng số lượng người tăng
lên gấp hàng chục hàng trăm lần thì rõ ràng nó phá vỡ cái không gian lễ hội, nó
biến lễ hội thành chỗ chen chúc dẫm đạp lên nhau thì tôi cho đó là cái cần phải
chấn chỉnh.
Mặc Lâm: Đó
là việc đám đông như ông nói có thể phá tan không gian lễ hội, riêng về nội
dung các lễ hội có hình ảnh bạo động mà quốc tế đang yêu cầu Việt Nam thủ tiêu
như đâm trâu, chọi trâu hay gần đây là chém lợn thì quan điểm của giáo sư có
đồng tình không?
GS Ngô Đức Thịnh: Không! tôi phải nói ngay rằng ở đây nó bằng đầu từ một quan niệm
về lễ hội không đúng. Cái thứ hai do tuyên truyền quảng bá lễ hội vì mục đích
kéo theo một số rất lớn người tham dự để tăng thêm thu nhập…cho nên nó dẫn đến
sự diễn đạt và giải thích sai lạc với lễ hội. Thực ra mà nói lễ hội như chọi
trâu ở Đồ Sơn, lễ hội đâm trâu ở một số nơi rồi tục “hèm” chém lợn…nếu như anh
tổ chức lễ hội theo đúng tinh thần của một cộng đồng nhỏ, của cái làng đó thôi
và tổ chức theo kiểu truyền thống như trước đây thì tôi nghĩ nó không phải là
cái gì lớn lắm hay ghê gớm lắm.
Lễ giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng năm 2010, tại tỉnh Phú Thọ.
Thế nhưng ở đây một là người ta muốn khuếch trương cái đó, người
ta muốn giới thiệu và mở rộng như là một cái gì đó giống như một sản phẩm tiêu
biểu, một sản phẩm đặc trưng của văn hóa dân tộc. Hai nữa họ muốn tuyên truyền
quảng cáo giật gân để thu hút rất nhiều người rồi chuyện nọ, chuyện kia cùng
những thứ khác thành ra câu chuyện lớn.
Ví dụ như chém lợn chẳng hạn thì tôi cho rằng bản thân nó không
phải là một điều gì ghê gớm như trên báo chí hay trên tất cả phương tiện thông
tin đại chúng tuyên truyền quảng bá như thế đâu. Nó chỉ là cái tục “hèm” của
cái làng ấy mà thôi và nếu họ tổ chức rất gọn trong nội bộ của làng thì cái lễ
hội nó trở thành thiêng liêng cho cộng đồng đó chứ không phải cho người khác
đến tham quan, rồi thế nọ thế kia. Thực hiện chuyện linh thiêng chém giết một
cách rất dã man xong rồi lấy tiền lấy giấy, lấy cái gì đó để mà quệt máu và tin
rằng có thể may mắn, có thể được cái nọ cái kia…Toàn những cái mà họ sáng tạo
thêm ra để cho người ta đến đông hơn để người ta quan tâm nhiều hơn và có thu
nhập lớn hơn.
Nếu lễ hội đặt đúng trong không gian lễ hội, đặt theo đúng tinh
thần lễ hội cổ truyền thì tôi nói ngay cái tục chọi trâu hay đâm trâu hoặc chém
lợn là những tục hèm của những cộng đồng rất nhỏ thôi không phải là của tất cả
mọi người. Cái chuyện đó tất nhiên đặt trong điều kiện hiện nay trong mối quan
hệ chung với các khu vực trên thế giới thì tôi cho là không nên khuyến khích.
Làm sao để giữ truyền thống?
Mặc Lâm: Nhưng
người dân ở những địa phương vẫn muốn giữ các truyền thống lễ hội này thì phải
làm sao để vừa giữ truyền thống vừa tránh mang những hình ảnh bạo lực ra thế
giới để khỏi chịu tiếng bạo lực thưa ông?
GS Ngô Đức Thịnh: Nếu như cộng đồng người ta vẫn còn muốn giữ cái truyền thống, vẫn
còn muốn giữ cái tục hèm đó thì tổ chức cho thật gọn, nhỏ ở trong chính cộng
đồng của mình thôi chứ không phải tuyên truyền quảng bá rộng rãi như bây giờ
thì tôi cho rằng sẽ không có vấn đề gì. Người ta đã lợi dụng để tổ chức một
cách quá đáng, chính vì thế nó gây nên những dư luận không hay.
Tôi cho rằng giống như chúng ta giết gà vào ngày tết chẳng hạn thì
các cụ hay nói là “hóa kiếp cho mày kiếp này mày bày kiếp khác” thí dụ như vậy.
Hành động mổ lợn có thể nói tất cả mọi làng xã, làng quê cũng vẫn mổ lợn như
thế có gì đâu ạ?
-GS Ngô Đức Thịnh
Tôi cho rằng giống như chúng ta giết gà vào ngày tết chẳng hạn thì
các cụ hay nói là “hóa kiếp cho mày kiếp này mày bày kiếp khác” thí dụ như vậy.
Hành động mổ lợn có thể nói tất cả mọi làng xã, làng quê cũng vẫn mổ lợn như
thế có gì đâu ạ? Nhưng ở đây gắn với tục “hèm” của làng đó và nó chỉ có ý nghĩa
cho riêng cộng đồng đó thôi cho nên lễ hội này là lễ hội của một làng và không
gian lễ hội nó hợp với không gian của một cái làng chứ không phải nó thuộc về
tất cả các nơi khác để mà quảng bá trong nước và quốc tế, cho nên tôi thấy sai
hoàn toàn.
Mặc Lâm: Thưa, riêng về khoản lễ hội mang tính chất tâm linh
thì có rất nhiều điều cần bàn nhất là lĩnh vực mê tín đã tràn lan trong tất cả
lễ hội thuộc loại này, phát ấn đền Trần là một thí dụ, không những dân chúng
đến để hy vọng có thể gia nhập vào hệ thống quan lại của nhà nước mà chính cán
bộ nhân viên cao cấp cũng có mặt để “hối lộ” thánh thần… là nhà nghiên cứu ông
có ý kiến gì về việc này đang lập đi lập lại mỗi đầu năm thưa ông?
GS
Ngô Đức Thịnh: Tôi hoàn toàn đồng ý,
tôi đã rất nhiểu lần phát biểu. Thật ra cái được gọi là phát ấn đền Trần đấy là
kiểu lợi dụng truyền thống để tổ chức hoàn toàn sai với truyền thống.
Cái gọi là khai ấn đầu xuân của lễ hội đền Trần chẳng qua chỉ
giống như dịp cuối năm thì chúng ta có hình thức gọi là đóng ấn. Đóng ấn là kết
thúc và gói ghém công việc lại để nghỉ tết. Đến sang xuân thì lại tổ chức lễ
khai ấn. Khai ấn coi như là khai mở công việc đầu năm, mở ấn ra và coi như là
từ giờ phút này thì bắt đầu công việc của đầu năm mới và chúc nhau năm mới tốt
lành mọi sự hanh thông. Thế thì khai ấn chỉ có ý nghĩa như vậy thôi chứ không
phải là một sự ban lộc, thưởng công hay phong tước cùng những thứ khác.
Mặc Lâm: Đó là ý nghĩa thật sự của khai ấn, vậy theo ông tại
sao nó lại biến dạng như hình ảnh mà chúng ta đang thấy hiện nay và đã bao giờ
các cơ quan chức năng phụ trách văn hóa Việt Nam, chẳng hạn như cơ quan của
ông, lên tiếng hay tư vấn với các nơi tổ chức lễ hội để tránh cho họ việc làm
lệch lạc như cầu mong thăng quan tiến chức, ban phát quyền lực chẳng hạn?
GS Ngô Đức Thịnh: Thực ra mà nói chúng tôi là những người nghiên cứu nên chúng tôi
biết rất rõ cái đó nó không liên quan gì đến chuyện quyền lực chức tước. Trong
khoảng chục năm gần đây thì người ta mới sáng tác ra cái chuyện ban ấn phát ấn
được coi như ban phát quyền lực và có nhiều người không muốn làm nhưng mà muốn
có ăn. Không muốn làm nhưng muốn có quyền lực chức tước và muốn có tất các thứ
khác. Người ta khao khát chuyện ấy và người ta đến xin cái ấn và cứ coi như năm
đó là năm sẽ được thăng quan tiến chức cùng các thứ khác. Nó tạo ra tâm lý xấu,
truyển thống xấu trong cái tổ chức lễ hội của Việt Nam. Chúng tôi đã phản đối
rất nhiều nhưng mà nói thế chứ chúng tôi cũng chẳng có quyền gì. Nhiều khi
người ta cũng vì lợi ích mà người ta không chịu nghe vì vậy chúng tôi không có
khả năng hơn được nữa.
Lễ hội chém lợn ở làng
Ném Thượng, xã Khắc Nam, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh vào trưa 24/02/2015 (mùng
6 Tết).
Courtesy PNO
Cứ mỗi năm vào dịp xuân về, người dân nô nức tham gia rất nhiều lễ
hội như một hình thức vui chơi giải trí sau một năm làm việc cực nhọc. Lễ hội
là hình thức phát triển và bảo tồn truyền thống văn hóa dân tộc. Một quốc gia
thiếu vắng lễ hội truyền thống thì văn hóa của quốc gia ấy sẽ trở nên nghèo
nàn, buồn tẻ. Tuy nhiên, phát triển lễ hội để mưu cầu lợi ích bất kể nội dung
lễ hội bị bóp méo, thậm chí thay đổi hoàn toàn sẽ khiến cho bản thân lễ hội trở
nên vô nghĩa và hơn thế, có thể làm biến dạng văn hóa lễ hội khiến chúng trở
nên vô cảm và ảnh hưởng rộng khắp trong người dân.
Hình thức chọi trâu, đâm trâu được xem là bạo lực và cần xem xét
lại dù sao vẫn thua xa hình thức chém lợn, một truyền thống của làng Ném Thượng
đã bị tổ chức Animal Asia phản đối cho là dã man và không phù hợp với văn minh
thế giới.
Bên cạnh bạo lực là mê tín dị đoan đến độ khó hiểu của người dân
và cán bộ nhân viên nhà nước trong lễ hội phát ấn đền Trần cũng là điều đáng
quan tâm. Sự mê tín đến phát cuồng của đám đông được nhiều người cho rằng do
mất lòng tin vào hiện thực xã hội nên người dân tìm về tâm linh để trút bớt
gánh nặng cuộc sống. Dù lý giải cách nào thì hình ảnh lễ hội cũng khó thuyết
phục những ai thực sự quan tâm đến một nền văn hóa sạch, thoát ra mọi cuộc đua
lôi kéo đám đông vào mục đích lợi nhuận bất kể lễ hội mang sắc thái khó chấp
nhận như tình hình hiện nay.
Chúng tôi có cuộc trao đổi với Giáo sư Tiến sĩ Ngô Đức Thịnh, Viện
trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển để tìm hiểu thêm phía sau các
lễ hội ấy là gì và nguyên nhân nào khiến chiếc xe lễ hội mất phanh nghiêm trọng
như vậy.
Nhiều biểu hiện tiêu cực
của lễ hội
Mặc Lâm: Thưa Giáo sư, trong cương vị là một người đang
làm việc và nghiên cứu về văn hóa và di sản Việt Nam ông nhận định thế nào về
các tranh luận của cộng đồng hiện nay về sự biến tướng hay đi quá đà trong các
lễ hội hàng năm?
Một số nơi người ta tổ chức lễ hội không đúng tinh thần của văn
hóa cũng như của phát triển và thậm chí người ta lợi dụng việc tổ chức các lễ hội
để tăng lợi ích cá nhân, mà nói thẳng ra là lợi dụng lễ hội để kiếm tiền, tăng
thêm thu nhập cho mỗi cá nhân hoặc nhóm lợi ích.
-GS Ngô Đức Thịnh
GS Ngô Đức Thịnh: Tôi làm việc trong Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển cho
nên chúng tôi cũng quan tâm nhiều đến văn hóa và lễ hội sau Tết Nguyên đán này.
Phải nói là ở Việt Nam phần lớn các lễ hội được tổ chức vào mùa xuân, vào dịp
tính từ Tết Nguyên đán cho đến hai, ba tháng sau tết. Lễ hội là truyền thống
lâu đời của người Việt Nam và nó có một vai trò rất lớn là nguồn lực cho sự
phát triển về văn hóa về con người nói chung và tôi cho rằng việc khôi phục lại
các lễ hội trong mấy chục năm gần đây là một điều rất tích cực và phải nói rằng
nó thể hiện sự phát triển.
Tuy nhiên một số nơi người ta tổ chức lễ hội không đúng tinh thần
của văn hóa cũng như của phát triển và thậm chí người ta lợi dụng việc tổ chức
các lễ hội để tăng lợi ích cá nhân, mà nói thẳng ra là lợi dụng lễ hội để kiếm
tiền, tăng thêm thu nhập cho mỗi cá nhân hoặc nhóm lợi ích. Tôi cho rằng có thể
nói đây là một biểu hiện tiêu cực của lễ hội trong thời gian gần đây.
Mặc Lâm: Thưa
Giáo sư, Việt Nam đã gắn lễ hội vào những loại hình du lịch được đặt những cái
tên rất hay như du lịch văn hóa rồi du lịch tâm linh, cũng dính líu ít nhiều
tới văn hóa lễ hội. Ông có đồng tình với những gán ghép này nhằm thu lợi nhuận
cho du lịch hay không?
GS Ngô Đức Thịnh: Lễ hội thì nó gắn với dân gian là truyền thống văn hóa của quê
hương đất nước, dân tộc cho nên nó phải gắn với cuộc sống tâm linh cuộc sống
dân gian của cái cộng đồng này. Hiện nay nhiều nơi người ta lấy mục đích là du
lịch lấy cái tên du lịch lễ hội, du lịch văn hóa du lịch tâm linh nhưng mục
đích của họ nhằm kéo nhiều người tham gia vào lễ hội, và mặc nhiên khi tham gia
vào lễ hội như vậy đi kèm với nó là các chi phí đi kèm với lễ hội, thu nhập lấy
được từ lễ hội. Tăng tất cả nguồn thu thí dụ như từ chuyện gửi xe ô tô, xe máy
xe đạp số tiền tăng lên rất nhiều. Thế rồi ăn uống dịch vụ các thứ cũng tăng
lên nhiều gấp 5 gấp 10 lúc bình thường bày ra tất cả các trò chơi để kiếm tiến
là chính, rõ ràng nó đi tới các hoạt động tiêu cực.
Không gian lễ hội vẫn chỉ có thế thôi nhưng số lượng người tăng
lên gấp hàng chục hàng trăm lần thì rõ ràng nó phá vỡ cái không gian lễ hội, nó
biến lễ hội thành chỗ chen chúc dẫm đạp lên nhau thì tôi cho đó là cái cần phải
chấn chỉnh.
Mặc Lâm: Đó
là việc đám đông như ông nói có thể phá tan không gian lễ hội, riêng về nội
dung các lễ hội có hình ảnh bạo động mà quốc tế đang yêu cầu Việt Nam thủ tiêu
như đâm trâu, chọi trâu hay gần đây là chém lợn thì quan điểm của giáo sư có
đồng tình không?
GS Ngô Đức Thịnh: Không! tôi phải nói ngay rằng ở đây nó bằng đầu từ một quan niệm
về lễ hội không đúng. Cái thứ hai do tuyên truyền quảng bá lễ hội vì mục đích
kéo theo một số rất lớn người tham dự để tăng thêm thu nhập…cho nên nó dẫn đến
sự diễn đạt và giải thích sai lạc với lễ hội. Thực ra mà nói lễ hội như chọi
trâu ở Đồ Sơn, lễ hội đâm trâu ở một số nơi rồi tục “hèm” chém lợn…nếu như anh
tổ chức lễ hội theo đúng tinh thần của một cộng đồng nhỏ, của cái làng đó thôi
và tổ chức theo kiểu truyền thống như trước đây thì tôi nghĩ nó không phải là
cái gì lớn lắm hay ghê gớm lắm.
Lễ giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng năm 2010, tại tỉnh Phú Thọ.
Thế nhưng ở đây một là người ta muốn khuếch trương cái đó, người
ta muốn giới thiệu và mở rộng như là một cái gì đó giống như một sản phẩm tiêu
biểu, một sản phẩm đặc trưng của văn hóa dân tộc. Hai nữa họ muốn tuyên truyền
quảng cáo giật gân để thu hút rất nhiều người rồi chuyện nọ, chuyện kia cùng
những thứ khác thành ra câu chuyện lớn.
Ví dụ như chém lợn chẳng hạn thì tôi cho rằng bản thân nó không
phải là một điều gì ghê gớm như trên báo chí hay trên tất cả phương tiện thông
tin đại chúng tuyên truyền quảng bá như thế đâu. Nó chỉ là cái tục “hèm” của
cái làng ấy mà thôi và nếu họ tổ chức rất gọn trong nội bộ của làng thì cái lễ
hội nó trở thành thiêng liêng cho cộng đồng đó chứ không phải cho người khác
đến tham quan, rồi thế nọ thế kia. Thực hiện chuyện linh thiêng chém giết một
cách rất dã man xong rồi lấy tiền lấy giấy, lấy cái gì đó để mà quệt máu và tin
rằng có thể may mắn, có thể được cái nọ cái kia…Toàn những cái mà họ sáng tạo
thêm ra để cho người ta đến đông hơn để người ta quan tâm nhiều hơn và có thu
nhập lớn hơn.
Nếu lễ hội đặt đúng trong không gian lễ hội, đặt theo đúng tinh
thần lễ hội cổ truyền thì tôi nói ngay cái tục chọi trâu hay đâm trâu hoặc chém
lợn là những tục hèm của những cộng đồng rất nhỏ thôi không phải là của tất cả
mọi người. Cái chuyện đó tất nhiên đặt trong điều kiện hiện nay trong mối quan
hệ chung với các khu vực trên thế giới thì tôi cho là không nên khuyến khích.
Làm sao để giữ truyền thống?
Mặc Lâm: Nhưng người dân ở những địa phương vẫn muốn giữ các
truyền thống lễ hội này thì phải làm sao để vừa giữ truyền thống vừa tránh mang
những hình ảnh bạo lực ra thế giới để khỏi chịu tiếng bạo lực thưa ông?
GS Ngô Đức Thịnh: Nếu như cộng đồng người ta vẫn còn muốn giữ cái truyền thống, vẫn
còn muốn giữ cái tục hèm đó thì tổ chức cho thật gọn, nhỏ ở trong chính cộng
đồng của mình thôi chứ không phải tuyên truyền quảng bá rộng rãi như bây giờ
thì tôi cho rằng sẽ không có vấn đề gì. Người ta đã lợi dụng để tổ chức một
cách quá đáng, chính vì thế nó gây nên những dư luận không hay.
Tôi cho rằng giống như chúng ta giết gà vào ngày tết chẳng hạn thì
các cụ hay nói là “hóa kiếp cho mày kiếp này mày bày kiếp khác” thí dụ như vậy.
Hành động mổ lợn có thể nói tất cả mọi làng xã, làng quê cũng vẫn mổ lợn như
thế có gì đâu ạ?
-GS Ngô Đức Thịnh
Tôi cho rằng giống như chúng ta giết gà vào ngày tết chẳng hạn thì
các cụ hay nói là “hóa kiếp cho mày kiếp này mày bày kiếp khác” thí dụ như vậy.
Hành động mổ lợn có thể nói tất cả mọi làng xã, làng quê cũng vẫn mổ lợn như
thế có gì đâu ạ? Nhưng ở đây gắn với tục “hèm” của làng đó và nó chỉ có ý nghĩa
cho riêng cộng đồng đó thôi cho nên lễ hội này là lễ hội của một làng và không
gian lễ hội nó hợp với không gian của một cái làng chứ không phải nó thuộc về
tất cả các nơi khác để mà quảng bá trong nước và quốc tế, cho nên tôi thấy sai
hoàn toàn.
Mặc Lâm: Thưa,
riêng về khoản lễ hội mang tính chất tâm linh thì có rất nhiều điều cần bàn
nhất là lĩnh vực mê tín đã tràn lan trong tất cả lễ hội thuộc loại này, phát ấn
đền Trần là một thí dụ, không những dân chúng đến để hy vọng có thể gia nhập
vào hệ thống quan lại của nhà nước mà chính cán bộ nhân viên cao cấp cũng có
mặt để “hối lộ” thánh thần… là nhà nghiên cứu ông có ý kiến gì về việc này đang
lập đi lập lại mỗi đầu năm thưa ông?
GS Ngô Đức Thịnh: Tôi hoàn toàn đồng ý, tôi đã rất nhiểu lần phát biểu. Thật ra cái
được gọi là phát ấn đền Trần đấy là kiểu lợi dụng truyền thống để tổ chức hoàn
toàn sai với truyền thống.
Cái gọi là khai ấn đầu xuân của lễ hội đền Trần chẳng qua chỉ
giống như dịp cuối năm thì chúng ta có hình thức gọi là đóng ấn. Đóng ấn là kết
thúc và gói ghém công việc lại để nghỉ tết. Đến sang xuân thì lại tổ chức lễ
khai ấn. Khai ấn coi như là khai mở công việc đầu năm, mở ấn ra và coi như là
từ giờ phút này thì bắt đầu công việc của đầu năm mới và chúc nhau năm mới tốt
lành mọi sự hanh thông. Thế thì khai ấn chỉ có ý nghĩa như vậy thôi chứ không
phải là một sự ban lộc, thưởng công hay phong tước cùng những thứ khác.
Mặc Lâm: Đó
là ý nghĩa thật sự của khai ấn, vậy theo ông tại sao nó lại biến dạng như hình
ảnh mà chúng ta đang thấy hiện nay và đã bao giờ các cơ quan chức năng phụ
trách văn hóa Việt Nam, chẳng hạn như cơ quan của ông, lên tiếng hay tư vấn với
các nơi tổ chức lễ hội để tránh cho họ việc làm lệch lạc như cầu mong thăng
quan tiến chức, ban phát quyền lực chẳng hạn?
GS Ngô Đức Thịnh: Thực ra mà nói chúng tôi là những người nghiên cứu nên chúng tôi
biết rất rõ cái đó nó không liên quan gì đến chuyện quyền lực chức tước. Trong
khoảng chục năm gần đây thì người ta mới sáng tác ra cái chuyện ban ấn phát ấn
được coi như ban phát quyền lực và có nhiều người không muốn làm nhưng mà muốn
có ăn. Không muốn làm nhưng muốn có quyền lực chức tước và muốn có tất các thứ
khác. Người ta khao khát chuyện ấy và người ta đến xin cái ấn và cứ coi như năm
đó là năm sẽ được thăng quan tiến chức cùng các thứ khác. Nó tạo ra tâm lý xấu,
truyển thống xấu trong cái tổ chức lễ hội của Việt Nam. Chúng tôi đã phản đối
rất nhiều nhưng mà nói thế chứ chúng tôi cũng chẳng có quyền gì. Nhiều khi
người ta cũng vì lợi ích mà người ta không chịu nghe vì vậy chúng tôi không có
khả năng hơn được nữa.
Tâm lý mặc cảm về nguồn gốc
xuất thân và sự thiếu hụt nhân tài lãnh đạo đất nước trong thời bình của người
Việt
Nguyễn
Trọng Bình
1
Vài năm trở lại đây, cứ như một thông lệ trong mỗi dịp xuân về,
không ít thì nhiều dân chúng cả nước lại được nghe những người đã hoặc đang giữ
cương vị lãnh đạo nước nhà bàn về hai đề tài cũ mèm.
Một là chuyện hòa hợp, hòa
giải dân tộc, hai là chính sách tìm kiếm và đãi ngộ nhân tài nhằm xây dựng và
phát triển đất nước trong thời bình.
Thật lòng, không hiểu sao mỗi khi nghe các
vị “đức cao vọng trọng” nước nhà phát biểu về hai vấn đề cũ mèm này bản thân
tôi vừa “dị ứng” vừa thấy lòng buồn vô hạn. Vì lẽ, nghe các vị phát biểu tôi
buộc phải nghĩ đến vận mệnh và tương lai của nước nhà sao cứ mãi quẩn quanh,
năm này qua tháng nọ đi trên con đường không có lối ra.
Thử hỏi đất nước đã thống nhất, giang sơn đã thu về một mối kể ra
có hơn nửa đời người rồi vậy mà năm này qua tháng nọ hai chuyện trên vẫn – cứ –
phải – mang ra nhắc đi nhắc lại là sao?
Điều này, theo tôi ít nhiều cũng đã nói
lên một sự thật: nội lực quốc gia hiện
nay vẫn đang bị phân tán rất nhiều và không biết đến khi nào mới thật sự hòa
hợp, thống nhất. Thứ nữa, thiển nghĩ những người đã và đang nắm quyền cai quản
nước nhà có thực sự muốn hòa hợp dân tộc và tìm kiếm nhân tài thật sự để xây dựng
đất nước phồn thịnh hay không?
Bởi
nếu muốn thì theo tôi đây là chỗ không nên nói nhiều và nói trùng lắp mãi mà
phải nhanh chóng bắt tay vào làm ngay thôi. Vì đất nước, quốc gia đến nay theo
tôi, cái “nguyên khí” đã và
đang vơi đi nhiều lắm rồi; nguồn tài nguyên “rừng vàng biển bạc” mà tạo hóa ban
tặng cũng đang dần bị thu hẹp và việc khai thác gần như muốn cạn kiệt rồi…
Vậy nên, thời điểm này mà vẫn ngồi “rung đùi”
bàn chuyện hòa hợp dân tộc và tìm kiếm nhân tài thì có phải là quá muộn màng và
kỳ cục lắm không? Có thể có ai đó cho rằng mới nửa đời người mà làm được bao
nhiêu chuyện là giỏi lắm rồi nhưng thử hỏi nửa đời của hơn 90 triệu dân cộng
lại thì sao, có chua xót và cay đắng không?
Thôi thì ở đây, vấn đề hòa hợp dân tộc xin tạm thời gác lại, sẽ
bàn vào một dịp khác. Bài viết này chỉ xin góp vài ý kiến xung quanh chuyện tìm
kiếm nhân tài.
2
Có một thực tế mà ai cũng thấy ở nước ta thời gian qua là, mỗi khi
có một người “nổi tiếng” (nhất là những người từng giữ cương vị lãnh đạo cấp
cao trong bộ máy chính quyền) nào đó mất đi thì qua các phương tiện truyền
thông công chúng sẽ biết được trong các bài điếu văn, trong các sổ tang gia
đình tràn ngập những lời ca tụng, biểu dương công đức người vừa nằm xuống như
những “nhân tài kiệt xuất” của đất nước.
Nào là “vĩnh biệt đồng chí kiên trung”, “vĩnh biệt người con ưu
tú của…”, “vĩnh biệt nhà lãnh đạo tài ba”; nào là “đồng chí là tấm gương sáng ngời,
suốt đời tận tụy vì dân, vì nước….”, v.v…
Vẫn biết “nghĩa tử là nghĩa tận”, vẫn biết “uống nước nhớ nguồn”
là đạo lý và truyền thống cao quý của dân tộc cần phải gìn giữ, với lại, cũng
không ai có quyền ngăn cấm việc thể hiện tình cảm yêu thương, sự mến mộ của ai
đó đối với người đã khuất. Tuy vậy, ở một góc nhìn khác, tôi tin là bất cứ một
người Việt Nam nào thật lòng quan tâm, trăn trở với hiện tình đất nước cũng ít nhất một lần tự đặt câu hỏi tại sao
Việt Nam có rất nhiều “nhân tài kiệt xuất” như vậy nhưng đến nay nước nhà vẫn lẹt
đẹt và không thể hóa rồng? Lẽ
ra, với truyền thống dày dặc nhân tài như vậy thì Việt Nam phải bay cao, bay xa
từ lâu rồi chứ không thể ì ạch mãi thế này?
Chưa hết, như mọi người đã biết, Đảng là tổ chức nắm quyền lãnh,
chỉ đạo trong mọi đường hướng phát triển đất nước và dân tộc suốt mấy mươi năm
qua. Và lâu nay việc kết nạp người vào hàng ngũ của Đảng đều phải tuân theo một
quy trình rất chặt chẽ và ngặt nghèo, chỉ có những người thật sự có Đức, có Tài
và lý lịch “ba đời trong sáng như gương” thì
mới được xét cho vào.
Theo cái logic thông thường mà suy thì những người đã và
đang nắm quyền lãnh đạo trong bộ máy nhà nước và chính quyền hẳn nhiên phải là
những cá nhân ưu tú và xuất sắc nhất (theo nghĩa những nhân tài của đất nước).
Thế thì tại sao mấy mươi năm qua những “nhân tài” này vẫn không thể đưa đất
nước “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như mong mỏi của Chủ tịch Hồ Chí
Minh lúc sinh thời?
Từ hai nghịch lý trên, người viết bài này “trộm” nghĩ hay là Việt
Nam từ khi đất nước hòa bình thống nhất đến nay ít có hoặc không có nhân tài
thật sự ngoài đời mà chỉ có nhân tài tồn tại trong trí tưởng
tượng của những người dân vì quá yêu, quá hâm mộ, quá “thần tượng” đồng đội,
đồng chí trong tổ chức, cơ quan, làng xã của mình thôi?
Cho
nên, mỗi khi “thần tượng” của mình qua đời thì vì “nghĩa tử là nghĩa tận” nên
mạnh ai nấy thần thánh hóa “thần tượng” lên như những anh hùng xuất chúng của
dân tộc? Phải chăng vì vậy mà đi suốt chiều dài nước Việt đến đâu người ta cũng
thấy tượng đồng bia đá, nhà mồ, nhà tưởng niệm, đền đài, lăng tẩm rất nguy nga
tráng lệ dành cho những “nhân tài kiệt xuất” ấy?
Công bằng mà nói, nếu căn cứ vào sự đánh giá của nhân dân dành cho
những lãnh đạo sau khi họ mất đi thì gần đây nổi bật lên là hai nhân vật có thể
xem là nhân tài của đất nước trong thời bình. Một là cố thủ tướng Võ Văn Kiệt
và hai là ông Nguyễn Bá Thanh – nguyên Bí thư Đà Nẵng và Trưởng ban Nội chính
Trung ương.
Tuy vậy, nếu so sánh hai nhân vật này với Lý Quang Diệu và Lý Hiển
Long ở Singapore thì theo tôi hai người tài của Việt Nam vẫn chưa đủ “tầm phủ
sóng” để có thể hiệu triệu toàn dân, từ đó tạo ra động lực thật sự để xoay
chuyển vận mệnh của đất nước.
Dĩ nhiên, so sánh như thế là khập khiểng, tuy
nhiên, qua so sánh này tôi muốn lưu ý rằng, trong nhiều trường hợp người Việt
cần phải hết sức cẩn trọng trong việc phong “nhân tài” cho các lãnh đạo trong
nước. Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, nếu chúng ta vẫn cứ “đóng cửa” và tự phong
“nhân tài” cho nhau thì có khác gì đang một mình… “tự sướng” trong đêm đen?
Nói cách khác, qua đây cho thấy thời gian qua người Việt dường như
đang có sự nhầm lẫn trong quan niệm và quá dễ dãi khi phong danh hiệu “nhân
tài” cho một lãnh đạo hay một cá nhân nào đó.
Tuy chưa có một công trình nghiên cứu nào nhằm so sánh mật độ nhân
tài giữa các nước trên thế giới nhưng tôi tin rằng nếu có một công trình như
thế thì Việt Nam chí ít cũng sẽ có thêm một kỷ lục thế giới về mật độ “nhân
tài” trong dân chúng.
Bởi không biết tự lúc nào hễ nghe tin một anh nào đó được
bổ nhiệm vào một vị trí lãnh đạo cao hơn trong bộ máy nhà nước; hay anh nào đó
vừa “lấy xong cái Tiến sĩ”, vừa mới được phong GS hay PGS… thì cả làng, cả xóm,
cả tỉnh, cả nước gọi đó là “nhân tài” và “phong Thánh” mà chẳng thèm xem xét
anh ta đã có đóng góp gì thiết thực cho dân cho nước hay chưa; chẳng thèm tìm
hiểu việc thăng quan tiến chức của anh ta có minh bạch, có đường hoàng hay vì
phe phái và lợi ích nhóm nên được nâng đỡ và tâng bốc lên?
Chính sự nhầm lẫn và dễ dãi này, theo tôi đã dẫn đến một hệ lụy là
lâu dần cả một dân tộc quay cuồng trong căn bệnh háo danh, khoe mẽ và nhất là
“thùng rỗng kêu to” lúc nào không hay. Từ đó làm cho việc phát hiện và bồi
dưỡng nhân tài nhất là nhân tài trong hàng ngũ lãnh đạo và quản lý đất nước rơi
vào cảnh “vàng thau lẫn lộn”, người thực tài và có tâm với đất nước thì bị vứt
ra bên lề xã hội và ngược lại.
Không những vậy, nhìn ở góc độ văn hóa, sự nhầm lẫn và dễ dãi
trong quan niệm về “nhân tài” của người dân thời gian qua cũng ít nhiều nói lên
cái tâm lý mặc cảm về
nguồn gốc xuất thân và sự thiếu hụt nhân tài thật sự của cả dân
tộc. Người ta đua nhau để được lên quan, để được gọi là GS, TS, để trở thành
người nổi tiếng, để rạng danh dòng tộc bằng con đường bất lương và thiếu minh
bạch là một trong những biểu hiện rõ nhất cho cái tâm lý mặc cảm này.
Điều này vô tình đã tạo
ra cái hệ lụy rất nguy hiểm là có không ít người thay vì dũng cảm nhìn vào sự
thật về hiện tình của đất nước trong thời điểm hiện tại để mà thay đổi thì lại bấu
víu vào những ánh hào quang xưa cũ của các vị tiền nhân, xem đó như là cứu
cánh, là phép mầu rồi biện hộ, lấp liếm cho những sai lầm trong quá trình lãnh
đạo của mình.
3
Đất nước muốn ổn định và phát triển thì nhất định phải có sự hòa
hợp của cả dân tộc. Nhưng muốn có sự hòa hợp của cả dân tộc thì xã hội cần có
một hành lang, một không khí “đối thoại” chân thành và dân chủ giữa lãnh đạo,
chính quyền với mọi tầng lớp nhân dân hay giữa các tầng lớp nhân dân với nhau.
Nói cách khác, nếu không có không khí “đối thoại” chân thành và dân chủ này (mà
chỉ là sự “độc thoại”, muốn nói gì thì nói từ một phía nào đó) thì mọi chính
sách dù đúng đắn đến mấy cũng rất khó đi vào đời sống, rất khó trở thành hiện
thực.
Bởi lẽ, trong cuộc sống những suy nghĩ và lời nói chân thành là
rất cần thiết nhưng vẫn chưa đủ vì nó không quan trọng bằng những hành động và
việc làm cụ thể nhằm hiện thực hóa suy nghĩ và lời nói ấy. Cho nên, nói cho
cùng một đất nước muốn phát triển và thịnh vượng thì những lời nói cùng những
việc làm chân thành từ phía người lãnh đạo là một trong những nhân tố quan
trọng nhất. Có được điều này rồi thì chắc chắn nhân tài của đất nước sẽ xuất
hiện và tự nguyện chung tay góp sức xây dựng quê hương thôi.
Khi ấy, “nguyên
khí quốc gia” chắc chắn cũng sẽ theo đó mà sung mãn, tràn trề mà không cần đến
những phong trào “trải thảm đỏ” để thu hút, tìm kiếm nhân tài mang nặng tính
hình thức như hiện nay.
Không phải chỉ trong hàng ngũ công an mới có người đang
đặt câu hỏi trên. Tất cả những kẻ đang nắm quyền hành và hưởng lợi lộc nhờ chế
độ Cộng Sản cũng ôm nỗi băn khoăn này.
Đảng mất mình đi đâu?
Có người đã chọn rồi: Đi Mỹ!
Trên mạng Internet đã thấy hình ngôi nhà một ông phó thủ tướng đương quyền mua
ở Anaheim, California, USA. Cả hình bằng lái xe ở California của con trai ông
ta. Trong đảng họ phá lẫn nhau cho nên mới tiết lộ cho bà con biết, còn hàng
ngàn căn nhà khác vẫn được giữ kín “bảo vệ đảng.” Chắc chắn nhiều cán bộ cao
cấp cũng tìm đường chạy từ lâu rồi. Và họ cũng biết một quy tắc của nghề đầu tư
là “Không để trứng tất cả vào chung một cái giỏ.” Nếu rớt, trứng bể hết.
Cho
nên, những kẻ quyền cao nhất, thế mạnh nhất, “đông tiền” nhất, họ đều biết phải
“phân tản” (diversify) các món đầu tư cho tương lai. Một căn nhà ở Mỹ, một cái
khác ở Đức, vài ba địa chỉ ở Úc, gửi tiền của đi chỗ nào xa xa nước Việt Nam
đều tốt cả. Mà phải chọn những nơi an toàn. An toàn nhất là những nước dân chủ
tự do. Chọn nơi nào có hệ thống tư pháp công bằng, trong sạch, tài sản của mình
được luật pháp bảo vệ, không sợ có đứa nó ỷ quyền chiếm mất - như ở nước Việt
Nam. Đem tiền sang các nước đó không những khỏi lo bị cướp mà dùng làm vốn sẽ
sinh lợi cao hơn. Những nước có truyền thống dân chủ lâu đời cũng là những nước
kinh tế lên cao nhất, nhờ tinh thần trọng pháp và luật lệ bảo vệ quyền tư hữu.
Cho nên, các đồng chí chưa chắc đã mua nhà ở Quảng Châu, Côn Minh, Bắc Kinh, mà
còn đem tiền sang các nước tư bản chính hiệu. Đó là tín hiệu con tàu sắp chìm,
đàn chuột bỏ chạy trước.
Đảng mất mình đi đâu? Không phải ai cũng có tiền và có
địa vị để chuẩn bị đường rút lai sang Tàu, sang Úc, Canada, Pháp, Đức, hay sang
Mỹ.
Cho nên, đang lo lắng nhất bây giờ chắc là những người
công an. Khẩu hiệu “Đảng còn thì mình còn” đã được nêu lên từ thời Trần Quốc
Hoàn, Mai Chí Thọ. Công an tự nhận họ đóng vai “chó săn;” nhưng hãnh diện rằng
họ “làm chó săn cho cách mạng!” Bộ máy tuyên truyền của Đảng Cộng Sản tài tình
đã dựng hai chữ “cách mạng” như một vị thần hoàng để họ chui vào cung đình chia
nhau ăn thủ lợn. Cái gì phục vụ“cách mạng” thì tốt, thì cao quý. Gán cho ai
nhãn hiệu “phản cách mạng” thì xúi giục đám “quần chúng” côn đồ chửi bới, chém
giết (Cải Cách Ruộng Đất), ám sát (Coi gương Khái Hưng, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm)
ném phân vô cửa nhà người ta (Coi Hoàng Minh Chính, Trần Khải Thanh Thủy), hoặc
đem vùi xuống đất đen (Coi Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần). Núp dưới bóng
thần “cách mạng” đó, công an “phục vụ cách mạng” là công an an tốt, đáng tự
hào. Họ có thể hãnh diện nhìn nhận công an gắn bó keo sơn với đảng; họ hô to
khẩu hiệu “Đảng còn thì mình còn” mà không thấy xấu hổ về cái vai trò ăn bám
như loài ký sinh trùng.
Nhưng bây giờ, bức mặt nạ “cách mạng” đã rớt xuống. Đảng
lệ thuộc ngoại bang đến mức không dám gọi tên những con tàu ăn cướp dân mình là
Tàu Trung Quốc mà bắt các báo đài phải gọi là “tàu lạ.” Dân bèn chế nhạo: Coi
chừng Người Lạ, Hàng Lạ! Chế độ gọi là “cách mạng” đã từng “học tập Mao Chủ
Tịch” chia rẽ dân tộc, gây đấu tranh giai cấp, gây chiến tranh Nam Bắc, người
Việt giết người Việt cho Trung Cộng thừa cơ chiếm quần đảo Hoàng Sa. Những công
an dẫn đám côn đồ đàn áp các cuộc biểu tình đòi Hoàng Sa, Trường Sa của dân Sài
Gòn, dân Hà Nội, phải tự nhìn thấy họ đang bị Đảng Cộng Sản xua đi phục vụ đế
quốc đỏ Trung Hoa. “Mình còn” nhưng “Nước mất” thì ai sẽ trả lời cho con cháu
đây?
Chính công an cũng thấy rõ chế độ bây giờ chỉ còn là một
bộ máy cường quyền liên kết với tư bản đỏ tham nhũng, trục lợi. Đó là hậu quả
không thể tránh được ở bất cứ nước nào do một chế độ độc tài đảng trị cầm
quyền.
Đảng còn ăn cướp được thì mình còn được ăn cướp. Nhưng họ cũng thấy hình
ảnh những ngôi biệt thự xa hoa của những bí thư tỉnh ủy to lớn sang trọng hơn
nhà mình trăm lần, ngàn lần. Họ đã thấy hình phòng khách trong nhà cựu Tổng Bí
Thư Lê Khả Phiêu toàn bảo vật quốc gia. Gần đây là hình trong nhà Nông Đức
Mạnh, tường cũng dát vàng với hai cái ngai vàng chạm hình rồng, bắt chước vua
chúa đời xưa. Người có học nhìn cảnh đó phải cảm thấy thương hại đám cựu tổng
bí thư đua đòi “trưởng giả học làm sang” bày trò khoe khoang nhơ nhuốc! Ngoài
những “của nổi” này, các vua chúa đỏ còn bao nhiêu “của chìm” cất giấu trong
các ngân hàng, trong thị trường chứng khoán và bao nhiêu ngôi biệt thự đã mua ở
ngoại quốc? Công an vẫn phải đóng vai “chó săn,” nhưng bây giờ họ đang làm chó
săn cho loài vua chúa nhố nhăng đó chứ chẳng có thứ cách mạng nào cả.
“Đảng còn thì mình còn nhưng đảng mất mình đi đâu?” Đó là
câu hỏi đang ám ảnh những người công an biết suy nghĩ. Ở Việt Nam, Bắc Hàn và
Trung Quốc.
Một mối lo ám ảnh nặng nề nhất là “ngàn năm bia miệng.”
Nhà văn Bùi Ngọc Tấn không phải là người nhỏ mọn. Nhưng
trước khi qua đời ông không thể không nhắc đến tên một tay chỉ huy công an ở
Hải Phòng, mà nhờ cuốn sách “Hậu Chuyện Kể Năm Hai Ngàn” của ông bây giờ cả
nước biết họ biết tên. Họ và tên ông này là Trần Đông, thường vụ thành ủy, giám
đốc sở công an Hải Phòng. Trần Đông đã vu cáo, đầy đọa nhiều nhà văn, chỉ để
chứng tỏ mình tích cực tham dự chiến dịch vu cáo “nhóm xét lại chống đảng.” Bỏ
tù mấy nhà văn làm lễ dâng công với Lê Đức Thọ, nhờ thế Trần Đông được thăng
quan, lên làm tới chức thứ trưởng. Con cháu ông Trần Đông có cảm thấy nhục nhã
khi biết cha, ông mình đã làm những việc thất đức đó hay không?
Bùi Ngọc Tấn không muốn thanh toán mối thù riêng. Ông
phải viết ra vì món nợ chung với bao nhiêu bạn tù bị guồng máy độc tài hãm hại.
Không kể hết thì những mối oan khiên không bao giờ được cởi. Nhà thơ Hoàng Hưng
viết lá thư mở đầu cuốn sách đã thông cảm nỗi lòng Bùi Ngọc Tấn. Cho nên ông đã
viết những lời hứa, những lời nguyền: “Còn một ngày cũng sống sao cho ra sống!
Vì thế chúng ta phải viết! Họ không muốn ta viết, ta phải viết! Họ sợ ta viết,
ta phải viết! Họ cấm ta viết, ta phải viết!...”
Những người không viết, họ có thể quay phim, có thể chụp
hình. Vì vậy những bức ảnh ngai vàng trong nhà Nông Đức Mạnh mới được đưa lên
mạng. Người phóng viên cầm máy ảnh trong tay chứng kiến cảnh vàng son lố bịch đó
tự cảm thấy mình phải giúp tất cả đồng bào trông thấy cuộc sống xa hoa nhố
nhăng của các vua chúa đỏ! Người biên tập trong tòa báo cũng đồng ý. Dòng họ
Nông sẽ đi vào lịch sử không phải vì ông Nông Đức Mạnh làm lãnh tụ Đảng Cộng
Sản một thời. Cả cuộc đời làm tổng bí thư của ông ta không ai nhớ Nông Đức Mạnh
đã làm gì, đã nói được câu nào cho ra hồn. Nhưng từ nay ai cũng nhớ hình ảnh
hai cái ngai vàng chạm đầu rồng trong nhà Nông Đức Mạnh!
“Đảng còn thì mình còn nhưng đảng mất mình biết trốn đi
đâu?”
Không ai trốn được ngàn năm bia miệng!
Những người công an bây giờ biết nhiều hơn, nhìn lại các
thủ lãnh đời trước cũng phải thấy nhục, phải xấu hổ: Cả ngành công an đã thối
nát ngay từ thủa ban đầu, không phải chỉ vì những tên như Trần Đông. Trần Quốc
Hoàn, trùm công an toàn quốc cũng “phục vụ cách mạng” bằng việc “dẫn gái” và
giết người bịt miệng. Hoàn đã đưa cô gái từ miền thượng du về cho Hồ Chí Minh,
hai bác cháu dùng xong rồi đem thủ tiêu người phụ nữ xấu số bằng tai nạn ô tô.
Vũ Thư Hiên đã kể rõ chuyện trong Đêm Giữa Ban Ngày. Ngàn năm bia miệng, biết
trốn đi đâu?
Tất cả các chế độ độc tài thối nát đều sẽ tan rã.
Những
người công an phải đọc được các tín hiệu báo trước chế độ đang tan rã.
Một gia
đình nông dân ở huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An đứng giữa chợ đả đảo chế độ Cộng
Sản. Cậu con trai đã không ngần ngại hô khẩu hiệu “Tiêu diệt Đảng Cộng Sản!”
“Tiêu diệt! Tiêu diệt!” Người mẹ còn hô to: “Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm!” Mà họ
không chỉ hô một, hai lần! Lòng người dân phải chứa chất nỗi phẫn uất đến mức nào
họ mới dám liều mạng hô to những tiếng “chết người” như vậy!
Chế độ độc tài chuyên chế nào cũng phải tan rã. Dân Việt
Nam không ngu, không hèn hơn dân các nước Đông Âu. Công an mật vụ ở các nước
này đã ngửi thấy mùi chế độ tan rã trước tháng 11 năm 1989. Cho nên khi chứng
kiến cơn thủy triều dân chủ tự do dâng lên chính họ bỏ rơi Đảng Cộng Sản. Cuộc
cách mạng ở Đông Đức không thể thành công nếu các công an Stassi đang gườm súng
quyết định bắn vào đám biểu tình ngay trong ngày đầu ở thành phố Dresden.
Dân
thủ đô Praha nước Tiệp không thể tiến chiếm “Lâu Đài” nếu chính các công an
không buông súng để ủng hộ. Đảng Cộng Sản Liên Xô tan hàng khi chính các sĩ
quan KGB ngoảnh mặt đi, không cứu, dù chỉ bắn một phát súng. Trong cả ba nước
đó, không một ai cất một ngón tay lên cứu Đảng Cộng Sản! Không một người nào
nhỏ một giọt nước mắt tiếc thương! Tất cả cũng từng thuộc lòng câu: “Đảng còn
thì mình còn!” Nhưng chính họ cũng nhiều đêm nằm vắt tay lên trán tự hỏi: “Đảng
mất mình biết trốn đi đâu?” Và họ đã lựa chọn: Mình đứng về phía những người
dân oan ức! Dân còn thì mình còn!
(Đoạn video biểu tình chống chế độ ở huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An ngày 10
tháng Hai năm 2015 có nối kết trên mạng là http://youtu.be/uRW1SBR0zZ4 ,
nhưng có thể đoạn phim này đã bị tiêu hủy rồi. Chúng tôi mới mở ra và chỉ thấy
một hình mở đầu, chúc quý vị may mắn hơn).
Vương phi Srirasmi bên cạnh
chồng thái tử Thái Lan Vajiralongkorn trước khi các vụ bê bối gia đình nổ ra.
AFP
PHOTO/PORNCHAI KITTIWONGSAKUL
Cha mẹ của cựu Vương phi Srirasmi, vợ cũ của Thái tử Thái
Lan, đã bị bắt giam vào hôm qua, 27/02/2015 về tội khi quân. Họ bị tố cáo lạm
dụng vị thế của con gái, để thúc đẩy việc bắt giam một phụ nữ. Đây là một tai
họa mới giáng xuống đầu gia đình Công nương xấu số từ tháng 11 năm ngoái đến
nay.
Thông tín viên RFI tại Bangkok, Arnaud Dubus phân tích :
Chú bác, anh em của Vương phi Srirasmi đã bị bắt sau vụ
tai tiếng tham nhũng vào tháng 11 năm ngoái. Riêng Vương phi Srirasmi đã phải
từ bỏ tước hiệu của mình vào tháng 12. Giờ đây đến lượt cha mẹ của Vương phi
xấu số. Họ bị tố cáo lạm dụng uy thế con gái để thúc đẩy việc bỏ tù một phụ nữ
láng giềng trên cơ sở một lời tố cáo bịa đặt về hành vi gian lận của nạn nhân.
Câu chuyện đã xẩy ra cách đây 10 năm.
Thoạt đầu thì người cha Apiruj Suwadee, 72 tuổi và bà mẹ,
66 tuổi, đã dứt khoát phủ nhận vụ việc, nhưng hôm qua, thứ Sáu, sau khi bị cảnh
sát thẩm vấn rất lâu, họ như đã nhận tội và bị tống giam ngay, chờ đợi xét xử.
Nếu bị xác nhận phạm tội khi quân, họ có thể bị đến 15 năm tù.
Người dân Thái quan sát một cách ngờ vực thảm kịch rơi
xuống gia đỉnh bà Srirasmi. Câu hỏi đối với nhiều người là làm sao Thái tử Maha
Vajiralongkorn có thể không hay biết về các vụ ‘lạm dụng quyền thế’ của bên gia
đình vợ ?
Một số nhà quan sát thì cho rằng chiến dịch nhắm vào gia
đình cựu Vương phi phản ảnh một thỏa thuận giữa Thái tử và giới quân sự đang
lãnh đạo Thái Lan. Đó là Thái Tử phải chỉnh đốn hàng ngũ người thân của mình
trước khi lên ngôi nếu vua Bhumibol, nay đã 87 tuổi, không may qua đời.