Việt Nam






Saturday, 28 February 2015

Quốc hội của Đảng thì giám sát được ai?

Quốc hội của Đảng thì giám sát được ai?

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-01-23

Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
namnguyen01232015.mp3Phần âm thanh Tải xuống âm thanh
035_20091020_60224-305
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, ảnh minh họa chụp trước đây.
AFP

Không có tác dụng

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nhìn nhận vai trò giám sát của Quốc hội Việt Nam không có thực chất, không có tác dụng và nhiều khi hiệu quả chưa bằng một bài báo biết xoáy vào một vấn đề cụ thể.

Lời Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng phát biểu tại Quốc hội chiều 19/1/2015 được truyền thông báo chí do nhà nước quản lý như Dân Trí và VTC News chạy tít lớn. Không chỉ mình ông Chủ tịch Quốc hội mà nhiều vị Chủ tịch các Ủy ban cũng có những nhận định tương tự, khi thảo luận về các vấn đề lớn trong dự án Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng Nhân dân.

Phát biểu của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nên được đánh giá như thế nào? Luật sư Trần Quốc Thuận nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội từ Saigon nhận định:
Đưa đoàn đi tỉnh này tỉnh kia hoặc bộ này bộ kia rồi nghe người ta báo cáo rồi nói qua nói lại, tôi đã từng đi như thế và tôi cho rằng đây là kiểu cưỡi ngựa xem hoa cũng không làm được công việc gì cho hiệu quả.
-LS Trần Quốc Thuận

“Câu nói của ông Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng là một câu nói tôi cho rằng rất là thật. Tại vì Quốc hội khi giám sát thì có ba hình thức giám sát, giám sát bằng văn bản, giám sát bằng cử các đoàn đi khảo sát và giám sát tại kỳ họp. Thực tế suy cho cùng cũng chỉ là giám sát đọc văn bản thôi; đọc văn bản mà không kiểm tra không thẩm tra thì công việc đó cũng không đi tới đâu cả. Bởi vì Quốc hội không có cơ quan chuyên môn, nếu muốn làm chuyện đó thì Quốc hội phải có cơ quan đến đó điều tra thẩm tra có chuyên môn như kiểm toán, thanh tra để vào làm việc được. Chứ còn đưa đoàn đi tỉnh này tỉnh kia hoặc bộ này bộ kia rồi nghe người ta báo cáo rồi nói qua nói lại, tôi đã từng đi như thế và tôi cho rằng đây là kiểu cưỡi ngựa xem hoa cũng không làm được công việc gì cho hiệu quả.”

Luật sư Trần Quốc Thuận từng đảm nhiệm vị trí Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội trong 14 năm cho rằng, hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam cần được cải cách. Ông nói:
“Công tác giám sát của Quốc hội cần phải có cơ quan chuyên môn, phối hợp với cơ quan chuyên môn, phải đi trong thời gian dài. Nhất là chất vấn thì phải làm tới nơi tới chốn, phải có nghị quyết chi tiết từng vấn đề một thì may ra hiệu lực quốc hội giám sát mới có kết quả. Chứ còn giám sát như trong thời gian vừa qua thì đúng như là lời Chủ tịch Quốc hội nói tức là làm mông lung chứ không đi vào đâu.”

Trong câu chuyện với chúng tôi nhà báo Phạm Thành từng có thời gian dài phục vụ truyền thông nhà nước nhận định rằng Quốc hội Việt Nam chỉ có vai trò mang tính hình thức. Từ Hà Nội nhà báo Phạm Thành phát biểu:
Một buổi họp Quốc Hội tại Hà Nội






Một buổi họp Quốc Hội tại Hà Nội(ảnh minh họa)
“Như ông Nguyễn Sinh Hùng nói là nhiều khi Quốc hội nói không ăn thua mà do một bài báo nào đấy nó lại có tác dụng. Quả thực thí dụ trong các vụ oan sai vừa rồi đối với Hồ Duy Hải và Nguyễn Văn Chưởng, không phải báo lề Đảng nữa mà báo lề dân lên tiếng thì rõ ràng cuối cùng Quốc hội mới xem xét vụ Hồ Duy Hải và Nguyễn Văn Chưởng có sai hay không. Có lẽ ông Nguyễn Sinh Hùng ông ấy căn cứ vào hiện thực ấy mà nói như thế chứ, còn ở Việt Nam mọi người đều hiểu Quốc hội nói cho hay cho vui thế thôi, chứ còn để họ thực sự là đại diện của dân thì phải do dân bầu, dân giới thiệu, cơ chế do Đảng cử rồi nhân dân phải bầu thì ngay cả bản thân đại biểu Quốc hội họ cũng luôn hiểu được họ là ai và phải sống như thế nào. Thực tế để họ là cơ quan tối cao giám sát thực thi pháp luật thì chỉ là điều ghi trong Hiến pháp, chứ họ cũng chẳng làm gì được đâu.”

Nếu Đảng gật đầu mới làm?

Theo báo mạng Dân Trí, chiều 19/1/2015 tại trụ sở Quốc hội trong dịp thảo luận về các vấn đề chủ chốt trong dự án Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng Nhân dân, bà Trương Thị Mai chủ nhiệm ủy ban Quốc hội về các vấn đề xã hội cho rằng, vai trò giám sát tối cao của Quốc hội chưa được làm rõ, đến nay vẫn đang là một cuộc tranh luận khiến quá trình thực thi còn những băn khoăn.

Đáp câu hỏi của chúng tôi về vấn đề vừa nêu, Luật sư Trần Quốc Thuận giải thích, giám sát tối cao thực tế là giám sát tại kỳ họp quốc hội. Khi Quốc hội họp nghe các báo cáo từ Chủ tịch Nước tới Thủ tướng, các Bộ rồi Viện Kiểm sát Tối cao, Tòa án Tối cao. Tất cả các cơ quan đó báo cáo và mỗi bên thảo luận rồi chất vấn, thì đó là hình thức giám sát tối cao, giám sát ở tầm cao và cũng được hiểu là giám sát toàn bộ bộ máy Nhà nước. Tuy vậy LS Trần Quốc Thuận nhấn mạnh:

Bộ máy Nhà nước Việt Nam gắn chặt với hoạt động của Đảng và nếu Đảng không đưa vào để chịu sự giám sát của Quốc hội thì công tác giám sát của Quốc hội chưa thể thấu đáo chưa làm rõ tận  nguồn gốc của mọi nguyên nhân gây ra.
-LS Trần Quốc Thuận

“Nhưng bộ máy Nhà nước Việt Nam gắn chặt với hoạt động của Đảng và nếu Đảng không đưa vào để chịu sự giám sát của Quốc hội thì công tác giám sát của Quốc hội chưa thể thấu đáo chưa làm rõ tận  nguồn gốc của mọi nguyên nhân gây ra. Cho nên chúng ta cũng nghe nói vụ Vinashin, Vinalines thì cuối cùng Thủ tướng lên cũng nói là tôi chỉ chịu trách nhiệm chính trị thôi bởi vì quyết định là ở nơi khác, tôi cũng làm theo quy trình thôi. Tất cả quy trình ở Việt Nam đều là làm việc gì đều phải báo cáo lên Đảng, nếu Đảng gật đầu thì mới làm cho nên trách nhiệm xác nhận không rõ ràng và công tác giám sát cũng không thấu đáo không làm tới nơi tới chốn, không có kiểm tra cũng không có quyền đi sâu vào trong lãnh vực mà cần phải tìm hiểu mới biết rõ nguồn cơn của nó được.”

Theo Dân Trí Online, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đánh giá là trong hoạt động của Quốc hội mới chỉ thấy việc lấy phiếu tín nhiệm và chất vấn là có kết quả thay đổi rõ rệt, riêng hoạt động giám sát thì chưa thấy hiệu quả thực sự. Ông Chủ tịch Quốc hội đặt ra một câu hỏi cho chính ông và toàn thể Quốc hội, đó là Đảng có giám sát, Mặt trận Tổ Quốc có giám sát, Hội đồng Nhân dân có giám sát, Quốc hội từ lâu cũng có giám sát. Nhưng kết quả thực tế như thế nào? Ông Nguyễn Sinh Hùng nhấn mạnh, cần phải có quy định rõ ràng hơn để hoạt động giám sát hiệu quả hơn, chứ không chỉ chung chung, gíam sát xong rồi để đó, không đề cập đến biện pháp xử lý thì sẽ không có thực chất và không có tác dụng.

Phát biểu của chủ tịch Quốc hội được Dân Trí Online trích dẫn nguyên văn: “Có nhiều khi hiệu quả giám sát chưa chắc bằng bài báo xoáy vào chỗ này, chỗ kia, cuối cùng lại có kết quả. Nếu cứ giám sát, báo cáo trước Quốc hội tràng giang đại hải thì sẽ không có kết quả gì cả…Ta cứ nói đèn xanh đèn đỏ, chẳng thấy chỗ nào đèn xanh đèn đỏ cả. Mình không thể đi xử án được, đó là việc của cơ quan tư pháp nhưng họ làm đúng hay sai thì Quốc hội phải phát hiện, đúng thì hoan nghênh, sai thì phải xem xét.” Người đọc báo tạm hiểu là ông Chủ tịch Quốc hội ví von đèn xanh đèn đỏ với hàm ý chỗ nào bị cấm chỗ nào được phép giám sát.

Theo tường thuật của Dân Trí, ông Nguyễn Văn Giàu Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội đánh giá Dự thảo Luật dự án Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng Nhân dân là còn có nhiều khoảng trống cần sửa đổi bổ sung thì mới có thể tạo ra sự thay đổi thực sự và nâng cao vai trò giám sát của Quốc hội, Hội đồng Nhân dân. Theo lời ông Giàu, Dự thảo Luật nêu ra khái niệm về giám sát nhưng xem kỹ vẫn không thấy có gì mới so với Luật cũ ban hành năm 2003. Chính vì thế khó có thể tạo ra sự thay đổi căn bản về chất trong hoạt động giám sát được.

Mặc dù nhiều vị nhân sĩ trí thức chuyên gia có chung nhận định là Quốc hội Việt Nam không thể có được vai trò giám sát độc lập và có hiệu quả vì Đảng Cộng sản Việt Nam qua Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định khi nào Đảng Cộng sản còn nắm quyền lãnh đạo thì Việt Nam không chấp nhận nguyên tắc tam quyền phân lập, tức Hành pháp, Lập pháp và Tư pháp độc lập với nhau và giám sát lẫn nhau.

Tuy vậy trong câu chuyện với chúng tôi, Luật sư Trần Quốc Thuận nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội nói rằng, cũng nhen nhúm một chút hy vọng cải cách, Hiến pháp 2013 qui định Đảng Cộng sản hoạt động chịu sự giám sát của nhân dân và chịu trách nhiệm về mọi quyết định của mình. Vấn đề còn lại là chờ xem Hiến pháp 2013 sẽ được thực thi triển khai như thế nào?




Đại biểu quốc hội hay cán bộ nhà nước?

 

Đại biểu quốc hội hay cán bộ nhà nước?

Thảo luận tại hội trường Quốc hội sáng ngày 17/11 về chương trình xây dựng luật, nhiều đại biểu đã bày tỏ quan điểm về việc cần hay không Luật biểu tình.
Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2011-11-18

Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
parliam-arg-demonstration-lawPhần âm thanh Tải xuống âm thanh
Đại biểu Hoàng Hữu Phước phát biểu trước quốc hội
Đại biểu Hoàng Hữu Phước phát biểu trước quốc hội
Source blog Nguyễn Xuân Diện









Trong các ý kiến của nhiều đại biểu nổi bật lên nhất là ý kiến của ông Hoàng Hữu Phước thuộc đơn vị Thành phố HCM phản bác và cho rằng cần loại bỏ luật này ra khỏi chương trình nghị sự quốc hội trong suốt khóa XIII.

Đại biểu Hoàng Hữu Phước có một bài đọc dài rất tỉ mỉ và lập luận của ông đưa ra chống lại Luật biểu tình gồm có hai điểm chính bao gồm: Biểu tình sẽ làm xã hội rối loạn ảnh hưởng việc kiếm ăn của người dân. Biểu tình chỉ có mục tiêu duy nhất là chống chính phủ.

Khi diễn giải về việc biểu tình gây rối loạn xã hội ông Phước kể lại điều mà ông chứng kiến nguyên văn như sau:

“Khi đi ngang qua vài cuộc tập hợp đông người gần đây Thành phố Hồ Chí Minh chống đường lưỡi bò tôi đã nghe những người bị kẹt xe lớn tiếng nguyền rủa, thóa mạ, văng tục đầy đe dọa những người đang tập hợp mà ta gọi là biểu tình ấy”.

Khinh thường cử tri

Ngay sau nhận xét này, đại biểu Dương Trung Quốc đã đáp lại bằng những lý luận sắc bén. Ông cho rằng nhìn người biểu tình dưới ánh mắt của ông Phước là một sự xúc phạm người dân, xúc phạm đến chính cả những cử tri đã bầu cho ông Phước. Đại biểu Dương Trung Quốc nói:

"Luật biểu tình là một công cụ để chúng ta điều chỉnh, chúng ta bảo đảm những yếu tố tích cực của nó và chúng ta bảo đảm quyền của người dân, thóa mạ những người biểu tình như thế chúng ta đi ngược lại những tuyên bố chính thức của nhà nước, đó là những người yêu nước, cách biểu thị của họ không thích hợp trong hoàn cảnh này vì chúng ta chưa có luật.

Luật biểu tình là một công cụ để chúng ta điều chỉnh, chúng ta bảo đảm những yếu tố tích cực của nó và chúng ta bảo đảm quyền của người dân, thóa mạ những người biểu tình như thế chúng ta đi ngược lại những tuyên bố chính thức của nhà nước...
ĐB Dương Trung Quốc
Đại biểu Dương Trung Quốc. Source blog nguyenxuandien
Đại biểu Dương Trung Quốc. Source blog nguyenxuandien<br />
Phát biểu như thế là xúc phạm đến chính người dân. Chính vì thế càng thấy chúng ta cần phải có Luật biểu tình càng sớm càng tốt. Đương nhiên đây là luật rất nhạy cảm, khó khăn, chúng ta phải có lộ trình thích hợp, thận trọng, nhưng không vì thế mà phủ nhận để biến chúng ta thành một ốc đảo dị thường trong thế giới hiện nay."

Đại biểu Hoàng Hữu Phước cho rằng người dân không ai muốn có chuyện biểu tình và đối với ông các cuộc biểu tình hồi gần đây tại Việt Nam:

“Chỉ là một nhóm nhỏ vài chục, vài trăm sinh viên, học sinh, những người chưa là những công dân có thu nhập, có việc làm. Đa số công dân sẽ không ủng hộ Luật biểu tình vì bản chất dễ bị tổn thương và dễ bị lợi dụng gây ra biến loạn.” 

Luật gia Lê Hiếu Đằng nhận xét lập luận này của ông Phước như sau:

"Tôi rất ngạc nhiên và hết sức bất bình trước phát biểu của đại biểu quốc hội Phước, là đại biểu Quốc hội của thành phố Hồ Chí Minh tôi nghĩ ông ta là giám đốc một doanh nghiệp, đi nước ngoài nhiều thì chắc là phải thoáng hơn, phải thấy cái xu thế dân chủ hiện nay là không thể đảo ngược và đó là một xu thế tiến bộ.

Qua ý kiến ông ta trong kỳ họp quốc hội này thì kiến thức ông ta rất nông cạn. Đánh giá người dân Việt Nam của ông ta rất tùy tiện. Như đại biểu Dương Trung Quốc nói ông nhân danh gì mà dân Việt Nam không muốn biểu tình? Đây là một phát biểu đi ngược lại trào lưu tiến bộ hiện nay và như vậy có thể nói ông ta không xứng đáng làm một đại biểu quốc hội mà người dân trông cậy hiện nay.

Qua ý kiến ông ta trong kỳ họp quốc hội này thì kiến thức ông ta rất nông cạn. Đánh giá người dân Việt Nam của ông ta rất tùy tiện. Như đại biểu Dương Trung Quốc nói ông nhân danh gì mà dân Việt Nam không muốn biểu tình? Đây là một phát biểu đi ngược lại trào lưu tiến bộ hiện nay.
Luật gia Lê Hiếu Đằng
Hẳn nhiên là ông ta có quyền có cái ý kiến của ông ta những ý kiến đó phải phù hợp tình hình và xu thế hiện nay. Nếu ý kiến của ông ta như vậy thì cử tri người ta sẽ xem lại ý kiến của ông ta như thế nào.

Riêng về cần có luật biểu tình hay không thì ngay Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước cũng thấy nhu cầu cần thiết của luật biểu tình, chỉ có điều giao cho bộ công an thì tôi không tán thành! Bây giờ ông Phước lại đi ngược lại với xu thế này mà ngay người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước thấy cần thiết."


Trước việc ông Hoàng Hữu Phước lấy dân ra để tăng sức mạnh cho lập luận của mình đại biểu Dương Trung Quốc thẳng thừng phản bác:
Biểu tình ôn hòa của người dân ngày 10 tháng 7, 2011 tại Hà Nội. Source anhbasam
Biểu tình ôn hòa của người dân ngày 10 tháng 7, 2011 tại Hà Nội. Source anhbasam
"Chính bởi vì không có luật nên mới dẫn đến tình trạng hỗn loạn. Tôi không tán thành các đại biểu Quốc hội cứ nhân danh nhân dân.

Tại diễn đàn Quốc hội chúng ta hãy nhân danh cá nhân mình thôi, trừ khi chúng ta có sự ủy nhiệm, hoặc có điều tra định lượng để nói rằng người dân phản đối, người dân băn khoăn trước định lượng đó, nó dẫn đến tiêu cực xã hội.

Nhưng người ta rất mong muốn rằng những tình cảm, cách thể hiện đó đúng lúc, đúng chỗ, nói cách khác là có luật." 


Những ý kiến của ông Dương Trung Quốc được TS luật Trần Đình Triển chia sẻ:

"Tôi hoàn toàn tán đồng với đại biểu Dương Trung Quốc và cũng không có gì lập luận hơn, cũng không còn gì nói hơn được.

Lời phát biểu của đại biểu Dương Trung Quốc hết sức sâu sắc nó vừa mang tính lịch sử vừa mang tính hiện tại và tương lai. Tôi cũng rất đồng tình ý kiến của Thủ tướng. Quốc hội cần phải xây dựng và ban hành ngay luật biểu tình.
"

Tôi hoàn toàn tán đồng với đại biểu Dương Trung Quốc và cũng không có gì lập luận hơn, cũng không còn gì nói hơn được. Lời phát biểu của đại biểu Dương Trung Quốc hết sức sâu sắc nó vừa mang tính lịch sử vừa mang tính hiện tại và tương lai. 
LS Trần Đình Triển

Cần phải có luật

Nhận xét về ý kiến biểu tình làm cho tắt đường, gây khó khăn cho người dân của đại biểu Hoàng Hữu Phước, TS luật Trần Đình Triển cho rằng lại càng phải mau làm Luật biểu tình, ông nói:

"Tôi cho rằng không phải biểu tình mới tắt đường. Ví dụ ngày lễ ngày hội đường lớn đường nhỏ đều tắt thì tại sao không ai nói là do vậy mà tắt đường? Nếu biều tình mà có tổ chức có quy định thì nó ảnh hưởng gì đến tắt đường?

Những lập luận của đại biểu Quốc hội đó với tư cách là một luật sư tôi mất hết niềm tin vì trình độ của đại biểu Quốc hội nó chưa ngang tầm với xã hội và chưa thể hiện được lòng mong mỏi của dân và đặc biệt tôi cho là đại biểu đó, ý kiến đó chính là đang phản bác ý kiến thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mà tôi đã đánh giá rất cao đề nghị của thủ tướng và cần phải sớm ban hành luật biểu tình
".

Ông Lê Văn Cuông, nguyên đại biểu quốc hội khóa trước đã đưa ra nhận xét về việc cần phải cụ thể hóa Luật biểu tình như sau:

Dân chủ cần phải được cụ thể hóa bằng pháp luật. Cái luật biểu tình là một trong những dự án luật theo tôi là rất cần thiết đối với bất kỳ một quốc gia nào. Biểu tình cũng thế, khi người ta bất bình với một vấn đề gì thì người ta thể hiện quan điểm của họ bằng biểu tình để giới cầm quyền biết được.
Ông Lê Văn Cuông
"Vấn đề dân chủ cần phải được cụ thể hóa bằng pháp luật. Cái luật biểu tình là một trong những dự án luật theo tôi là rất cần thiết đối với bất kỳ một quốc gia nào. Biểu tình cũng thế khi người ta bất bình với một vấn đề gì thì người ta thể hiện quan điểm của họ bằng biểu tình để giới cầm quyền biết được sự bức xúc hay phẫn nộ của người dân để mà điều chỉnh lại vai trò quản lý của mình.

Tuy nhiên Luật Biểu tình là một trong những dự án luật đối với Việt Nam rất cần thiết nhưng vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau trong các đối tượng xã hội. Có một bộ phận cũng chưa tán thành, họ sợ ảnh hưởng ổn định chính trị cho nên lâu nay cũng có mặc cảm nên chưa ủng hộ dự án luật này.
"

Luật gia Lê Hiếu Đằng chứng minh việc không có luật cho những yêu cầu chính đáng của người dân sẽ làm cho sự việc tồi tệ thêm ông đưa ra thí dụ:

"Tôi nói ví dụ trường hợp đình công chẳng hạn. Luật lao động quy định quyền đình công của công nhân hiện nay rất không phù hợp dù người ta biết là bất hợp pháp nhưng người ta vẫn đình công.

Ở Bình Chánh đã nổ ra cuộc đình công lớn, gần 30 ngàn công nhân đã đình công thì vấn đề biểu tình cũng vậy. Vừa qua đâu có luật biểu tình nhưng người dân thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội vẫn thực hiện cái quyền ghi trong hiến pháp người ta đi biểu tình yêu nước chống Bắc Kinh xâm lược.

Tôi cho nhu cầu biểu thị thái độ của công dân qua hình thức biểu tình là nhu cầu có thật và dù anh có luật hay không có luật thì người ta vẫn thực hiện cái quyền của người ta.
"

Dân cử hay cán bộ?

Với ông Hoàng Hữu Phước thì quan điểm của ông là tất cả các cuộc biểu tình đều có mục tiêu chống chính phủ và ông đặt câu hỏi:

“Việt Nam có cần cho cuộc biểu tình chống Chính phủ Việt Nam hay không, chống các chủ trương, chính sách, đạo luật của Chính phủ Việt Nam hay không. Nếu không cần tại sao lại đưa dự án Luật biểu tình, nói rồi nói mãi như thể nó là khuôn vàng, thước ngọc để đo chiều cao, chiều rộng, chiều dài, chiều sâu của cái gọi là tự do dân chủ”.

Việt Nam có cần cho cuộc biểu tình chống Chính phủ Việt Nam hay không, chống các chủ trương, chính sách, đạo luật của Chính phủ Việt Nam hay không. Nếu không cần tại sao lại đưa dự án Luật biểu tình, nói rồi nói mãi như thể nó là khuôn vàng, thước ngọc để đo chiều cao, chiều rộng, chiều dài, chiều sâu của cái gọi là tự do dân chủ.
Ô. Hoàng Hữu Phước
Câu hỏi này mặc nhiên cho thấy vai trò đại biểu quốc hội của ông Hoàng Hữu Phước đã đảo lộn. Từ một người được dân bầu lên để tranh đấu và nói lên quyền lợi của cử tri, ông đã trở thành một viên chức nhà nước với luận cứ hết sức chủ quan và áp đặt.

Ông Phước không nhìn mặt thứ hai của vấn đề đó là tại sao người dân biểu tình chống chính phủ?

Những sự chống đối rộng lớn qua các cuộc biểu tình của người dân luôn bắt nguồn từ các sai phạm của giới chức cầm quyền khi đã trở nên nghiêm trọng. Người dân không chống đối một nhà nước tốt, và nhất là không dễ bị giật giây nếu nhà nước đó chú tâm đến quyền lợi và đời sống chính trị của họ.

Thông qua các cuộc biểu tình, một chính phủ tốt sẽ sửa đổi chính sách hay các sai phạm của mình cho phù hợp với nguyện vọng của người dân, còn ngược lại nếu chính phủ theo quan điểm của ông Phước thì liệu người dân có ngưng không dám đi biểu tình hay không?

Câu trả lời vừa xảy ra sáng ngày 18 tháng 11 chỉ sau khi ông Phước phát biểu một ngày, hơn 500 giáo dân và tu sĩ, linh mục tại Hà Nội và vùng phụ cận đã tập trung biểu tình đòi giải quyết đất của Dòng Chúa Cứu Thế mà giáo xứ Thái Hà được quyền sử dụng nhưng bị nhà nước mượn mà không trả lại.

Liệu vấn đề này sẽ được ông Phước đánh giá ra sao khi họ hoàn toàn không muốn chống chính phủ mà chỉ kêu lên những điều mà nhà nước không chú ý, hay chú ý nhưng chưa giải quyết.

Nếu chính quyền Hà Nội cùng quan điểm với đại biểu quốc hội Hoàng Hữu Phước thì máu sẽ đổ, nhà tù sẽ chật hơn, và lòng dân sẽ ly tán. Kẻ bị lên án không phải là người đi biểu tình mà chính là những ai cầm giấy kêu gọi, cổ vũ cho các hành động đàn áp chống biểu tình, chống lại quyền của người dân đương nhiên được hiến pháp thừa nhận.

Rất may rằng UBND thành phố Hà nội đã rất tỉnh táo để giải quyết vấn đề và hình ảnh thủ đô chưa bị xấu đi dưới mắt nhìn của quốc tế. Đây chính là nguyên nhân mà Thủ  tướng Nguyễn Tấn Dũng đã hối thúc soạn thảo luật biểu tình khi đất nước đang bước vào giai đoạn đối diện với các cường quốc mà lãnh đạo cần phải tự tin không sợ xấu hổ vì không đi ngược lại với giá trị phổ cập mà hiến pháp Việt Nam quy định: Quyền biểu tình.

(1)Dựa theo câu nói nổi tiếng của chủ tịch Quốc hội Nguyễn văn An: đừng lôi đảng vào đây!



VNTB – Thư phát động cuộc vận động luật Biểu tình

VNTB – Thư phát động cuộc vận động luật Biểu tình

Sài Gòn: Vang dội tiếng hô 'Tự do cho Người Yêu Nước'



image





Preview by Yahoo


Kính gửi: 
Các công dân Việt Nam; 
Người Việt Nam ở nước ngoài;
Các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp trong và ngoài nước.

Hiến pháp Việt Nam từ năm 1992 đến năm 2013 đã quy định biểu tình là một quyền của công dân. Cũng theo Hiến pháp, chính quyền không thể sử dụng các văn bản dưới luật để điều chỉnh quyền biểu tình của người dân.
Nhưng trong thực tế, từ Hiến pháp 1992 đến nay đã không có bất kỳ văn bản luật nào được ban hành dành cho quyền biểu tình của công dân. Nhà nước cũng thể hiện thái độ hoàn toàn thiếu thiện chí khi nhiều lần, tìm mọi cách trì hoãn việc xây dựng và đưa luật biểu tình ra Quốc hội. Năm 2015 cũng có nhiều khả năng luật Biểu tình sẽ bị hoãn thêm một lần nữa.
Trong bối cảnh ấy, nhiều biểu thị chính đáng của các giai tầng chịu thiệt thòi như công nhân, nông dân, tiểu thương, nạn nhân môi trường… dù tăng lên, nhưng đã bị cô lập đến mức tối thiểu. Nhân quyền xuống dốc trầm trọng.

Chúng tôi khẳng định rằng:
– Tự do ngôn luận sẽ chẳng thế có nếu như công dân không có quyền sử dụng không gian công cộng để bày tỏ quan điểm của mình.
– Chính phủ không thể có cải cách thể chế nếu không bắt đầu bằng việc tôn trọng quyền tự do biểu tình của công dân.
Trong khi đó, cần phải hiểu rõ ràng rằng, Luật Biểu tình không chỉ cần cho người dân, mà còn cho cả chính quyền.

– Đối với người dân, luật là sự bảo đảm, sự chỉ dẫn cho việc thực thi quyền biểu tình.

– Đối với chính quyền, luật cung cấp các quyền năng, các công cụ pháp lý cần thiết cho 
việc điều chỉnh hành vi biểu tình. Với một đạo luật như vậy, vừa bảo đảm được quyền của người dân, vừa bảo đảm được nền tảng pháp lý cho cách hành xử của chính quyền.
Người dân hành xử đúng, chính quyền hành xử đúng, chính quyền không chỉ có được đồng thuận xã hội mà còn cả trật tự – an toàn xã hội.

Nhằm góp phần giải quyết tình hình bức xúc trên, trong thời gian qua Hội Nhà báo độc lập Việt Nam đã cùng một nhóm luật sư, luật gia, chuyên gia tổ chức nghiên cứu và xây dựng dự thảo luật biểu tình, trên cơ sở tham khảo thông lệ, văn bản quốc tế và những điều kiện đặc thù của Việt Nam về biểu tình.

Quyền biểu tình rất đáng được xem là một trong những tiêu chí đầu tiên cho sự nghiệp dân chủ hóa ở Việt Nam, căn cứ vào Quyền tự do biểu đạt (Điều 19, Điều 20); Quyền tự do hội họp và lập hội (Điều 21, Điều 22) của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR, 1966); Nghị Quyết 24 của Hội đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc 24 về Cổ xúy và Bảo vệ Nhân quyền trong bối cảnh biểu tình ôn hòa (ngày 21 tháng 3 năm 2013.)

Vì lý do thiết thân ấy, Hội Nhà báo độc lập Việt Nam rất mong mỏi các công dân Việt Nam và người Việt khắp nơi trên thế giới, cùng các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp trong và ngoài nước, gạt bỏ những trở ngại và mâu thuẫn (nếu có) để ủng hộ cuộc vận động luật Biểu tình tại Việt Nam, tạo tác động sâu sắc, cũng như có những hành động cần thiết đối với Nhà nước và Quốc hội Việt Nam nhằm thông qua luật Biểu tình ngay trong năm 2015.
Dự luật biểu tình được công bố lấy ý kiến rộng rãi trên mạng Internet và sau đó đúc kết, chuyển giao kết quả dự luật hoàn chỉnh cho các cơ quan nhà nước như Quốc hội, Chính phủ và các bộ ngành liên quan.

Trang Việt Nam Thời Báo của Hội Nhà báo độc lập Việt Nam mở mục “Vận động luật Biểu tình” như một diễn đàn để đón nhận các ý kiến nhiều chiều, các bài viết phản biện liên quan đến luật Biểu tình.

Mọi ý kiến và bài viết đóng góp, ghi danh ủng hộ xin gửi về địa chỉ email của Ban Cải cách thể chế thuộc Hội Nhà báo độc lập Việt Nam: bancctc@gmail.com
Hãy vì quyền biểu tình hiến định của người dân Việt Nam!

Sài Gòn, ngày 26 tháng 2 năm 2015 
Hội Nhà báo độc lập Việt Nam 
Danh sách ký tên ủng hộ dự luật Biểu tình: (họ tên, tuổi, nghề nghiệp, địa phương)
Vd: Nguyễn Văn A (30 tuổi), Bác sĩ, Hà Tĩnh

——————————-
 VNTB – Dự thảo Luật Biểu tình
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khóa XIII, Kỳ họp thứ 6, thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013; Quốc hội ban hành Luật Biểu tình;
Luật này quy định về tổ chức và hoạt động của quyền tự do biểu tình.
Chương I: Quy định chung
Điều 1. Biểu tình
Biểu tình là sự tập hợp giữa các cá nhân, dưới dạng đứng yên hoặc diễu hành nhằm biểu thị ý chí, nguyện vọng để gây sức ép đối với một vấn đề bất kỳ về kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa nảy sinh trong và ngoài nước.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Luật này áp dụng đối với tổ chức công đoàn các cấp, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức dân sự – xã hội, công dân Việt Nam.
Điều 3. Phạm vi điều chỉnh
1.    Công dân có quyền biểu tình ôn hòa; không lợi dụng cuộc biểu tình để gây rối an ninh công cộng; tuân thủ những quy định của địa phương về âm thanh, ánh sáng.
2.    Nhà nước có trách nhiệm tạo mọi điều kiện thuận lợi để người dân được thực hiện quyền biểu tình. Mọi hành vi đe dọa, chia rẽ, gây cản trở hoặc ngăn cản cuộc biểu tình hợp pháp sẽ bị xử lý hình sự, hoặc xử phạt hành chính tùy theo tính chất, mức độ.
3.    Quyền biểu tình của công dân chỉ có thể bị giới hạn bởi Điều 9 của Luật Biểu tình. Việc giới hạn cũng không làm mất đi bản chất của quyền này.
4.    Việc đình công của các doanh nghiệp không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này.
Điều 4. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1.    Quyền biểu tình: gắn với quyền con người, quyền tự do ngôn luận, quyền hội họp, quyền tự do đi lại, quyền tự do cư trú, quyền thân thể.
2.    Quyền tự do ngôn luận: là sự tự do phát biểu mà không bị kiểm duyệt hoặc hạn chế. Tự do ngôn luận phải tuân thủ nguyên tắc không được xúc phạm, miệt thị nhằm hạ thấp một cá nhân hay nhóm người vì chủng tộc, giới tính, dân tộc, quốc tịch, tôn giáo, định hướng tình dục, tật nguyền, khả năng ngôn ngữ, hệ tư tưởng, địa vị xã hội, nghề nghiệp, ngoại hình, khả năng tư duy hay bất cứ dị biệt nào…
3.    Vũ khí: là những vật dụng được nêu tại Điều 3 Pháp lệnh số 16/2011/UBTVQH12 ngày 30-06-2011 Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
4.    Hung khí: là công cụ, dụng cụ được chế tạo ra nhằm phục vụ cho cuộc sống của con người (trong sản xuất, trong sinh hoạt), hoặc vật mà người phạm tội chế tạo ra nhằm làm phương tiện thực hiện tội phạm, hoặc vật có sẵn trong tự nhiên mà người phạm tội có được và nếu sử dụng công cụ, dụng cụ hoặc vật đó tấn công người khác thì sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc sức khỏe của người bị tấn công.
5.    Nghĩa vụ thông báo: Trước khi diễn ra cuộc biểu tình, những người giữ vai trò tổ chức có trách nhiệm thông báo tất cả nội dung của cuộc biểu tình sẽ diễn ra đến cơ quan công quyền.
6.    Ôn hòa: Không xâm phạm trái phép vào các tuyến giao thông, các tòa nhà hành chính, không phỉ báng, kích động bằng việc đốt cờ, hô khẩu hiệu tục tĩu trong quá trình biểu tình.
7.    Kiểm soát biểu tình: là vẫn giữ được các cam kết như ban đầu giữa đoàn biểu tình và phía nhân viên công lực từ lúc bắt đầu, đến khi kết thúc.
Tùy từng trường hợp cụ thể, cơ quan có thẩm quyền phải căn cứ vào những tiêu chuẩn định lượng của Luật Hiến pháp như: phải có đủ cơ sở pháp lý, có đủ bằng chứng thực tế xác minh, các biện pháp áp dụng phải tương xứng với hành vi vi phạm…
8.            Giá trị tự do cơ bản: Những giá trị phổ quát về nhân quyền, dân chủ như: quyền tự do ngôn luận, quyền tự do lập hội, quyền ứng cử, bầu cử,…
9.    Công trình công ích nhà nước: Ở đây là các công trình công cộng liên quan trực tiếp đến lợi ích chung của quốc gia như: nhà máy thủy điện, nhà máy nước, nhà máy nguyên tử.
10. Các biện pháp giải tán biểu tình: Được sử dụng khi cuộc biểu tình có các hành vi bạo lực không kiểm soát được, diễn biến biểu tình khác xa thông báo.
10.1 Kêu gọi giải tán biểu tình bằng lời nói
10.2 Tiến hành bắt giữ cá nhân
10.3 Tiến hành bắt giữ một số cá nhân
10.4 Sử dụng các biện pháp hỗ trợ: Phun vòi rồng, dùng hơi cay…

Chương II: Tổ chức hoạt động biểu tình
Điều 5. Các trường hợp cấm biểu tình
1.    Nhằm chống lại giá trị tự do, dân chủ cơ bản.
2.    Nhằm mục đích kêu gọi Tòa án Hiến pháp tuyên bố giải tán một đảng chính trị nào đó (khi Việt Nam có Tòa án Hiến pháp).
3.    Nhằm ủng hộ một đảng phái đã được Tòa án Hiến pháp tuyên bố là đảng vi hiến và bị cấm hoạt động (khi Việt Nam có Tòa án Hiến pháp).
4.    Nhằm tụ họp những hội mà theo Luật về Hội đã bị cấm hoạt động (hiện nay Việt Nam chưa có Luật về Hội).
5.    Nhằm gây rối trật tự công cộng, an ninh xã hội, gây cản trở giao thông, làm ảnh hưởng đến các dịch vụ công; tiến hành tấn công lực lượng an ninh, hoặc gây những nguy hiểm cho các cá nhân, cộng đồng.
6.    Tiến hành biểu tình đồng thời với địa điểm đang diễn ra cuộc đình công của người lao động.
7.    Tiến hành biểu tình khi có vũ khí, hung khí, vật liệu nổ, các loại phương tiện khác gây nguy hiểm đến cá nhân, tài sản công của Nhà nước.

Điều 6. Quyền và nghĩa vụ của đoàn biểu tình
1.    Quyền của đoàn biểu tình
2.    a) Yêu cầu cảnh sát đảm bảo an ninh, trật tự trong quá trình tiến hành biểu tình. Trong đó, có đảm bảo tài sản công và tài sản cá nhân.
3.    b) Chụp ảnh, quay video, nhằm thông tin hoặc tìm kiếm sự ủng hộ cho đoàn biểu tình.
4.    c) Được giám sát bởi các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền, truyền thông, báo chí độc lập trong nước và quốc tế.
5.    d) Phối hợp với cơ quan công quyền dừng hoạt động biểu tình bất kỳ lúc nào hoặc tiến hành tước quyền biểu tình với mọi đối tượng có hành vi gây rối trong đoàn.
6.    Nghĩa vụ của đoàn biểu tình
7.    a) Tùy vào yêu cầu mục đích nội dung biểu tình, thời gian thông báo gửi cơ quan quản lý trật tự trị an về văn bản công bố chi tiết, về nội dung biểu tình, từ 12 giờ đến tối đa là 48 giờ trước khi cuộc biểu tình diễn ra.
Nội dung văn bản bao gồm: thời gian bắt đầu và kết thúc, địa điểm bắt đầu và kết thúc (bao gồm tuyến đường tuần hành nếu có), số lượng người tham gia, mục đích của việc biểu tình, nội dung âm thanh và biểu ngữ, cường độ âm thanh.
1.    b) Những người tổ chức biểu tình có nghĩa vụ tuân theo sự chỉ dẫn của cảnh sát nhằm đảm bảo diễn biến biểu tình theo hướng ôn hòa.
2.    c) Những người tổ chức biểu tình có trách nhiệm theo dõi diễn tiến của việc biểu tình, chịu trách nhiệm về việc biểu tình phải diễn ra một cách ôn hòa.
3.    d) Không sử dụng những hình ảnh, biểu tượng gây hiểu lầm về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mỗi người, có tính chất thù địch về mặt chính trị trên trang phục, băng-rôn, khẩu hiệu.
4.    e) Không mặc những trang phục, hoặc sử dụng những biểu tượng có tính chất kích động bạo lực hoặc kỳ thị.
5.    f) Ban tổ chức cuộc biểu tình có nghĩa vụ tổ chức biểu tình đúng thời gian thông báo, số lượng người tham gia.

Điều 7. Quyền và nghĩa vụ của cơ quan công quyền
1.    Quyền của cơ quan công quyền
2.    a) Có thể cấm biểu tình tại thời điểm chuẩn bị tiến hành biểu tình khi có những căn cứ rõ ràng cho thấy biểu tình không tuân thủ đầy đủ các quy định theo luật biểu tình. Thông báo điều này cho đoàn biểu tình tối thiểu 6 giờ trước khi biểu tình dự kiến diễn ra.
3.    b) Có thể giải tán biểu tình trước thời điểm đăng ký khi có những căn cứ rõ ràng cho thấy quá trình biểu tình đã bị mất kiểm soát từ phía người tổ chức biểu tình. Thông báo điều này cho những người tổ chức biểu tình và yêu cầu được hợp tác.
4.    c) Ngay khi tuyên bố giải tán biểu tình, tất cả các thành viên lập tức phải rời khỏi nơi biểu tình. Trong quá trình biểu tình, không chỉ những người tổ chức biểu tình mà cảnh sát cũng có thể yêu cầu người không tuân thủ các quy định về Luật Biểu tình ra khỏi đoàn biểu tình.
5.    d) Tiến hành tạm giữ hành chính một cá nhân hay một vài cá nhân được cho là gây nguy hiểm trực tiếp cho “trật tự biểu tình”, và được phép yêu cầu cung cấp giấy tờ chứng minh nhân thân, thông qua sự đồng ý các quan điểm chung với những người tổ chức biểu tình.
6.    e) Được phép sử dụng các biện pháp khác ngoài lời kêu gọi nhằm giải tán biểu tình, trong trường hợp lệnh giải tán được ban ra. Các biện pháp này phải nằm trong khuôn khổ pháp luật.

7.    Nghĩa vụ của cơ quan công quyền
8.    a) Thực hiện mọi biện pháp để tạo môi trường thuận lợi nhất cho đoàn biểu tình. Trong đó đảm bảo sự an toàn cho trẻ em, trẻ vị thành niên được bày tỏ quan điểm của mình. Đảm bảo tài sản cá nhân, tài sản công trong tiến trình giám sát biểu tình.
9.    b) Loại bỏ hoặc tìm cách loại bỏ sự phân biệt đối xử trong quá trình biểu tình (sắc tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, giới tính, thể trạng).
10. c) Bảo vệ đoàn biểu tình khỏi sự đe dọa hoặc quấy rối vật lý, các hành vi khiêu khích, bạo lực từ bên ngoài. Tạo điều kiện cho những tổ chức nhân quyền, báo chí giám sát, báo cáo về cuộc biểu tình ôn hòa.

Điều 8. Những hành vi bị nghiêm cấm
1.    Cản trở, gây khó khăn trong việc thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình.
2.    Phân biệt đối xử hoặc có hành vi gây bất lợi đối với công dân vì lý do tham gia các cuộc biểu tình.
3.    Tiến hành bắt giữ cá nhân, bắt giữ hàng loạt, sử dụng vũ lực trái phép, hình sự hóa các cuộc biểu tình, sử dụng các phương tiện khác nhằm ngăn chặn các cuộc biểu tình công khai, hợp pháp.
4.    Sử dụng biện pháp kinh tế hoặc biện pháp khác gây bất lợi đối với tổ chức và người tham gia hoạt động biểu tình.
5.    Trường hợp đã có tuyên bố cấm biểu tình hoặc có lệnh giải tán biểu tình đã được công bố, người nào tiếp tục tiến hành cuộc biểu tình, tùy thuộc vào mức độ và hậu quả gây ra mà sẽ bị xử tương ứng với các quy định tại Bộ Luật Hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ Luật Hình sự.
Điều 9. Giới hạn quyền biểu tình
1.    Sử dụng quyền biểu tình nhằm mục đích chống đối lại xã hội bằng cách cổ vũ, tôn vinh chủ nghĩa khủng bố.
2.    Sử dụng quyền biểu tình để bao vây và tấn công vào tòa nhà Quốc Hội, khu vực quân sự, các công trình công ích nhà nước.
3.    Sử dụng quyền biểu tình để kích động hận thù, gây chia rẽ các sắc tộc, kỳ thị hoặc phỉ báng tôn giáo, vùng miền trong nước.
Chương III. Xử lý vi phạm
Điều 10. Xử lý vi phạm
1.    Người nào đe dọa, chia rẽ, gây trở ngại hoặc ngăn cản cuộc biểu tình hợp pháp bằng các hành động bạo lực, hoặc đe dọa tinh thần người tham gia biểu tình ở trước, trong và sau cuộc biểu tình, sẽ căn cứ theo quy định tương ứng của Bộ Luật Dân sự, Bộ Luật Hình sự và các văn bản quy phạm pháp luật khác để xử lý.
2.    Người nào sở hữu vũ khí hoặc chất nổ trong quá trình tham gia biểu tình sẽ chịu trách nhiệm tương ứng của Bộ Luật Dân sự, Bộ Luật Hình sự và các văn bản quy phạm pháp luật khác để xử lý.
3.    Người nào ép buộc người khác tham gia vào cuộc biểu tình dưới mọi hình thức sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc xử lý hình sự
4.    Sau khi đã có tuyên bố cấm biểu tình hoặc lệnh giải tán biểu tình đã được công bố, người nào tiếp tục chống đối bằng việc tiếp tục tiến hành biểu tình sẽ được xử lý theo các quy định tương ứng của Bộ Luật Hình sự và các văn bản quy phạm pháp luật khác để xử lý.
5.    Những người tổ chức biểu tình, người trợ giúp biểu tình, cơ quan công quyền mà sử dụng vũ khí hoặc công cụ bạo lực khác gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe cho người khác, hoặc gây thiệt hại về tài sản của người khác tại cuộc biểu tình, cũng như tại địa điểm diễn ra cuộc biểu tình, sẽ chịu trách nhiệm pháp lý tương ứng với Bộ Luật Hình sự và các văn bản quy phạm pháp luật khác để xử lý.
6.    Việc xử phạt hành chính được dẫn chiếu, áp dụng điều khoản liên quan của Bộ Luật Dân sự, Bộ Luật Hình sự và Luật Xử phạt vi phạm hành chính, hoặc văn bản quy phạm pháp luật liên quan.
Chương IV. Điều khoản thi hành
Điều 11. Hiệu lực thi hành
1.    Luật này có hiệu lực từ…,
2.    Việc thực hiện Luật này không chờ đợi vào văn bản hướng dẫn dưới luật, nếu như các văn bản này được ban hành không đồng thời với hiệu lực thi hành của Luật Biểu tình.
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa …, kỳ họp thứ … thông qua ngày … tháng … năm 201…
—————————-
Thông báo số 11/ Hội NBĐLVN về thành lập Ban Cải cách thể chế
Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam
Thông báo số 11/ Hội NBĐLVN về thành lập Ban Cải cách thể chế
Cải cách thể chế (CCTC) là một xu thế tất yếu phải diễn ra ở Việt Nam, trước tiên đối với chính thể và sau đó liên quan đến thị trường, doanh nghiệp, dân chúng và Xã hội dân sự.
CCTC cũng là một thách thức lớn đối với Chính phủ Việt Nam để chuyển dần từ mô hình toàn trị sang dân chủ hóa.
Từ nhiều năm qua, Việt Nam vẫn duy trì một số chính sách và cơ chế được cho là có hại cho hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội (như không có quyền sở hữu tư nhân đất đai, chính sách độc quyền kinh tế trong một số lĩnh vực, hạn chế quyền con người thông qua một số điều luật…).
Trong khi đó, quyền phản biện được xem như là một biểu hiện tự do dân chủ cơ bản và là quyền công dân chính đáng cần được bảo vệ trong các xã hội dân chủ.
Là tiếng nói truyền thông độc lập ở Việt Nam, Hội Nhà báo độc lập VN có vai trò như một thành phần góp phần vào hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội – chính trị cơ bản, trong đó có hoạt động nghiên cứu CCTC.
Hội Nhà báo Độc lập VN quyết định xây dựng nhóm hội viên chuyên trách về luật và một số chuyên gia thuộc các lĩnh vực khác nhau để thành lập “Ban Cải cách thể chế” trực thuộc Hội.
Quy chế hoạt động của Ban Cải cách thể chế
Quy chế hoạt động của Ban Cải cách thể chế căn cứ vào Điều lệ và Quy chế hoạt động của Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam.
Điều 1. Nhiệm vụ Ban Cải cách thể chế
1- Ban Cải cách thể chế nghiên cứu có chọn lọc một số vấn đề chủ chốt về cải cách thể chế quốc gia liên quan các lĩnh vực dân chủ hóa: các quyền tự do cơ bản, kinh tế thị trường, phúc lợi xã hội, văn hóa dân tộc, tôn giáo, chính trị đa nguyên.
2- Hoạt động nghiên cứu của Ban Cải cách thể chế cũng nhằm xây dựng cơ sở để đối thoại, khuyến nghị hoặc phản đối trong quan hệ với các cấp chính quyền, theo phương châm Xã hội dân sự tác động nhằm thay đổi những chính sách bất hợp lý, bất công của Nhà nước cùng thực tế triển khai không hoặc chưa bảo đảm lợi ích dân sinh.
Điều 2. Công bố và chuyển giao kết quả
Kết quả nghiên cứu cùng đề xuất, khuyến nghị về nội dung cải cách của Ban Cải cách thể chế được công bố đến các phương tiện truyền thông, báo chí trong nước và quốc tế, được gửi đến các tổ chức phi chính phủ, tổ chức dân sự độc lập và cơ quan chức năng nhà nước liên quan.
Ban Cải cách thể chế có thể phối hợp với các tổ chức dân sự trong và ngoài nước cùng các cơ quan nhà nước liên quan để triển khai những kết quả nghiên cứu có tính ứng dụng cao.
Điều 3. Nguyên tắc làm việc
1- Ban Cải cách thể chế hoạt động trên các nguyên tắc của Hội Nhà báo độc lập VN.
2- Báo cáo, đề xuất với Ban lãnh đạo Hội các nội dung, đề tài nghiên cứu về CCTC và giải pháp, phương hướng để thực hiện.
3- Ban Cải cách thể chế làm việc theo nguyên tắc định hình dân chủ: tập thể thảo luận, cá nhân chịu trách nhiệm, tôn trọng tác quyền, bảo mật thông tin.
4- Trưởng ban có trách nhiệm tổng hợp và chuyển gửi nội dung, đề xuất với cơ quan quản lý nhà nước.
Điều 4. Chế độ làm việc
1- Ban Cải cách thể chế làm việc trên cơ sở Điều lệ và Quy chế hoạt động của Hội Nhà báo độc lập VN.
2- Kết quả các phiên thảo luận của Ban Cải cách thể chế được thể hiện bằng văn bản gửi cho Ban lãnh đạo Hội Nhà báo độc lập Việt Nam; và thông báo cho hội viên trong trường hợp cần thiết.
Điều 5. Quan hệ công việc
1- Ban Cải cách thể chế chủ động liên hệ với các hội viên Hội Nhà báo độc lập và các giới trong xã hội để ghi nhận, trao đổi các vấn đề, liên quan đến nội dung đang thực hiện.
2- Ban Cải cách thể chế chủ động trao đổi thông tin cần thiết với các cơ quan, tổ chức dân sự xã hội trong và ngoài nước; mời đại diện các cơ quan hữu trách nhà nước tham dự các tọa đàm có liên quan đến việc thực hiện nội dung của Ban Cải cách thể chế.
3- Ban Cải cách thể chế có thể trực tiếp quan hệ và liên kết với các tổ chức quốc tế và tổ chức trong nước về hoạt động nghiên cứu và vận động.
Điều 6. Chế độ thù lao
1- Các thành viên giữ trách nhiệm trong Ban Cải cách thể chế, làm việc trên cơ sở đóng góp tự nguyện cho tổ chức dân sự – xã hội, bất vụ lợi cá nhân.
2- Thù lao (nếu có) sẽ trên cơ sở cân đối nguồn tài chính của Hội Nhà báo độc lập, và mức thù lao sẽ được công khai, minh bạch.
Điều 7. Tổ chức
Chủ tịch Hội Nhà báo độc lập kiêm trưởng ban Cải cách thể chế và chịu trách nhiệm phân công, phân nhiệm, thay đổi, điều chỉnh nhân sự của Ban Cải cách thể chế.
Ban Cải cách thể chế có một số phó trưởng ban, bộ phận thư ký và cộng tác viên.
Điều 8. Thực hiện
Quy chế này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Trong quá trình thực hiện, nếu cần điều chỉnh, bổ sung, Ban Cải cách thể chế sẽ có Tờ trình yêu cầu để Ban lãnh đạo Hội Nhà báo độc lập quyết định.
Sài Gòn, ngày 26 tháng 2 năm 2015
Thay mặt Ban lãnh đạo Hội Nhà báo độc lập Việt Nam
Chủ tịch
Nhà báo Phạm Chí Dũng
Ghi chú: Bộ phận điều hành tạm thời của Ban Cải cách thể chế bao gồm nhà báo Phạm Chí Dũng (Chủ tịch Hội NBĐLVN), luật gia Cao Minh Tâm (Phó trưởng ban) và cử nhân Lê Mạnh Tuấn (thư ký), cùng một số cộng tác viên.

Email của Ban Cải cách thể chế: bancctc@gmail.com

My Blog List